Năm 1975 khép lại một thời kỳ chiến tranh kéo dài, mở ra một chương mới trong lịch sử đất nước. Với Hà Nội, đó không chỉ là thời khắc của hòa bình và thống nhất, mà còn là điểm khởi đầu của một công cuộc kiến thiết quy mô lớn, và đưa những bố cục, đường nét, cách tổ chức không gian mới mẻ của trường phái kiến trúc hiện đại vào xây dựng không gian cho một đời sống xã hội mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.
Trào lưu kiến trúc hiện đại hình thành và phát triển mạnh từ đầu thế kỷ XX, với rất nhiều điểm đổi mới: không còn lấy hình thức của các kiến trúc trong quá khứ làm khuôn mẫu bắt buộc (chẳng hạn cột kiểu Hy Lạp, mái vòm, phào chỉ, hoa văn cổ điển, mái dốc kiểu Pháp... để thể hiện sự sang trọng cầu kỳ); chính công năng, kết cấu và vật liệu mới trở thành cơ sở để tạo hình cho tòa nhà. Bê tông cốt thép, đá cho phép tạo ra những không gian rộng, mặt bằng linh hoạt, cửa sổ lớn, mái bằng và những hình khối đơn giản. Thay vì trang trí dày đặc, vẻ đẹp của công trình có thể đến từ tỷ lệ, nhịp điệu kết cấu, ánh sáng, bóng đổ và cách các khối nhà liên kết với nhau.
Khi kiến trúc hiện đại đi vào Việt Nam thời kỳ này, các kiến trúc sư không đơn giản chỉ áp dụng nguyên tắc tạo hình của thế giới. Trong điều kiện nắng gắt, mưa lớn, độ ẩm cao và nhu cầu thông gió khiến các kiến trúc sư phải tìm những giải pháp khác: hành lang sâu, mái đua, lam chắn nắng, tường hoa gió, khoảng đệm, sân trong và những mặt đứng có độ rỗng lớn.
Sau mấy chục năm đổi mới, đô thị Hà Nội phát triển nhanh chóng, có công trình đã bị phá hủy để nhường đất cho các dự án mới, có công trình vẫn sừng sững với nắng mưa, có công trình thì đứng trước nguy cơ "hạ giải". Nhìn lại lớp di sản kiến trúc này cũng là nhìn lại một giai đoạn lịch sử của Hà Nội, một lớp văn hóa đô thị, một miền ký ức của người dân Thủ đô.
Cung Thiếu nhi Hà Nội
Cung Thiếu nhi, do kiến trúc sư Lê Văn Lân thiết kế, là bất ngờ lớn đối với giới kiến trúc sư thời bấy giờ bởi lần đầu tiên ở Hà Nội có một công trình mang đầy đủ ngôn ngữ kiến trúc hiện đại xã hội chủ nghĩa do chính người Việt Nam thiết kế.
Trong cuộc trò chuyện năm 2024, kiến trúc sư Lê Văn Lân cho biết, từ khi kiến trúc hiện đại chưa thực sự định hình, một công trình kiến trúc luôn được mong đợi phải có tường bao quanh từ mặt đất, có các ô cửa phù hợp, có mặt bằng tầng đồng nhất, nóc mái kín đáo chỉn chu, có trang trí gờ chỉ ấn tượng. "Sau thiết kế của Đại học Bách Khoa, đến lượt Cung Thiếu nhi, thì tất cả như đã hoàn toàn khác hẳn. Ấn tượng ngỡ ngàng của giới chuyên môn hay người qua đường chính vì ở lẽ ấy".
Công trình được đánh giá là một bứt phá của kiến trúc Việt Nam về tạo hình, kỹ thuật xây dựng cũng như cách tổ chức không gian. Không gian tầng một được giải phóng, mặt bằng các tầng tự do, được bố trí tùy theo yêu cầu chức năng cụ thể. Bố cục khối được xử lý đặc - rỗng thông minh, cùng với cú pháp điểm - tuyến - diện - khối sinh động. Mặt đứng được tổ chức với các mảng hoa gió, hành lang và khoảng đệm giúp hạn chế bức xạ mặt trời nhưng vẫn tạo thông gió và ánh sáng tự nhiên.
Bưu điện Hà Nội
Công trình được Trung Quốc viện trợ xây dựng, có sự tham gia thiết kế ban đầu của chuyên gia Trung Quốc, sau đó các kiến trúc sư Việt Nam chỉnh sửa. kiến trúc sư Nguyễn Kim được ghi là người chủ trì thiết kế. Khối nhà chính hướng ra Hồ Gươm cơ bản hoàn thành năm 1976, sau đó chính thức vận hành vào 1978.
Tòa nhà hoàn thành vào năm 1976 và chính thức vận hành từ 1978, là một trong những công trình lớn đưa kiến trúc Hiện đại vào khu vực lõi lịch sử Hà Nội sớm nhất. Các kiến trúc sư từ bỏ cú pháp kiến trúc mái dốc, phào chỉ của các công trình Pháp xung quanh Hồ Gươm, thay bằng một khối nhà mái bằng, mặt đứng trải dài theo phương ngang, các ô cửa lặp lại có tính mô-đun và một trục giữa được nhấn mạnh bởi tháp đồng hồ. Bưu điện Hà Nội là công trình đầu tiên ở Hà Nội có vòm bê tông tại sảnh với khẩu độ rộng 15,3 × 15,3 m.
Tháp đồng hồ bốn mặt được lắp cùng với quá trình hoàn thiện công trình và chính thức hoạt động năm 1978. Chiếc đồng hồ là thiết bị do Trung Quốc tặng. Ngày 2/9/1978, từ đây vang lên bản Ca ngợi Hồ Chủ tịch; về sau đồng hồ thường phát nhạc vào 6 giờ, 12 giờ và 18 giờ, đồng thời điểm chuông trong ngày. Chính yếu tố âm thanh này của Bưu điện Bờ Hồ khiến nơi chốn Hồ Gươm có thêm cảm nhận và sự ghi nhớ về âm thanh.
Sảnh chính Ga Hà Nội
Ga Hà Nội, thường được gọi là Ga Hàng Cỏ, được người Pháp xây dựng và đưa vào hoạt động đầu thế kỷ XX. Công trình ban đầu mang dáng dấp một nhà ga châu Âu với bố cục đối xứng, mái dốc, cửa sổ lớn và tỷ lệ hài hòa. Đêm 21/12/1972, trong chiến dịch Linebacker II, bom B-52 đánh trúng Ga Hàng Cỏ. Gian trung tâm cùng chiếc đồng hồ lớn bị đánh sập, trong khi hai cánh phía Bắc và phía Nam của nhà ga vẫn còn tồn tại.
Mặt trước Ga Hà Nội. Ảnh: Triệu Chiến
Một cuộc thi kiến trúc được tổ chức và phương án của kiến trúc sư Hoàng Nghĩa Sang giành chiến thắng. Ông lựa chọn một giải pháp hoàn toàn mới: đặt tòa nhà trung tâm với kiến trúc hiện đại vào giữa hai cánh nhà phía Bắc và Nam theo phong cách thuộc địa vẫn còn tồn tại. Sảnh mới được hoàn thành năm 1976, đúng vào thời điểm ngành đường sắt gấp rút khôi phục tuyến Bắc - Nam. Ngày 31/12/1976, những chuyến tàu Thống Nhất đầu tiên khởi hành từ Hà Nội và Sài Gòn, chính thức nối lại tuyến đường sắt xuyên Việt sau nhiều năm chiến tranh và chia cắt.
Điểm đáng chú ý trong cách cải tạo Ga Hà Nội là phần xây mới không cố gắng mô phỏng hay phục dựng giả hình thức kiến trúc cũ, mà chủ động mang một ngôn ngữ khác để người xem có thể nhận biết rõ các lớp thời gian của công trình. Hai cánh nhà ga đầu thế kỷ XX được giữ lại như chứng tích của một giai đoạn lịch sử, trong khi khối sảnh trung tâm mới thể hiện tinh thần kiến trúc của thời kỳ sau chiến tranh. Cách xử lý này tạo nên sự phân biệt lịch đại giữa cũ và mới, tránh làm sai lệch tính xác thực của di sản. Đây cũng là quan điểm bảo tồn tiến bộ, về sau mới được nhấn mạnh rộng rãi trong thực hành bảo tồn đương đại: phần bổ sung mới cần hài hòa với công trình cũ nhưng đồng thời phải có khả năng được nhận diện như một lớp kiến trúc của thời đại mình.
Nhà khách Chính phủ số 2 Lê Thạch (đã phá dỡ)
Năm 1973, khi nhu cầu đón tiếp các đoàn ngoại giao quốc tế tăng lên, một khối nhà khách mới được xây ở phía sau Bắc bộ phủ cũ, tiếp cận từ số 2 Lê Thạch. Khối nhà mới này là tác phẩm của kiến trúc sư Diêu Công Tuấn, được lựa chọn từ một cuộc thi thiết kế quan trọng. Nhà khách được hoàn thành, đưa vào sử dụng năm 1975.
Điều thú vị của Nhà khách số 2 Lê Thạch là tòa nhà không phải kiểu Chủ nghĩa Hiện đại quốc tế hoàn toàn "trơn", phi trang trí. Hình khối tổng thể rất hiện đại: khối nhà dài theo phương ngang, mái bằng, các tầng phòng ngủ lặp lại theo mô-đun; những dải lan can đặc chạy ngang tương phản với các băng cửa kính tối phía sau.
Trên mặt đứng, kiến trúc sư Diêu Công Tuấn tạo hai mảng tường đứng cao nhiều tầng, nhô khỏi mặt phẳng chính tại khu vực hành lang giữa. Hai yếu tố đứng này đối trọng với toàn bộ các đường ngang của ban công và cửa sổ, khiến mặt đứng dù kéo dài nhưng không bị đơn điệu. Hệ lan can sử dụng những tấm bê tông đá rửa đục lỗ thành họa tiết hoa, còn ở các đầu hồi xuất hiện những mảng trang trí mosaic/gốm.
Như vậy, công trình thực hiện một việc khá đặc trưng của kiến trúc Việt Nam giai đoạn này: tiếp nhận cấu trúc và hình khối Hiện đại nhưng tìm cách tạo bản sắc bằng hoa văn, vật liệu và nghệ thuật trang trí bản địa.
Công trình đã được dỡ bỏ để xây tòa nhà mới theo lối kiến trúc Tân Cổ điển.
Nhà máy Thuốc lá Thăng Long (đã phá dỡ)
Nhà máy Thuốc lá Thăng Long là một trong những hạt nhân hình thành khu công nghiệp Thượng Đình - "Cao - Xà - Lá" (gọi tắt của cao su - xà phòng - thuốc lá) ở phía Tây Nam Hà Nội. Nhà máy được thành lập năm 1957; cơ sở tại Nguyễn Trãi được khởi công xây dựng cuối năm 1958 và đi vào hoạt động từ năm 1960, trong chương trình khôi phục và xây dựng công nghiệp miền Bắc với sự hỗ trợ của Trung Quốc. Những nhà xưởng đầu tiên sử dụng kết cấu gạch kết hợp bê tông cốt thép, cửa kính chạy thành băng ngang và các lam che nắng - một dạng kiến trúc công nghiệp Hiện đại đã được điều chỉnh để thích ứng với khí hậu nhiệt đới.
Mặt trước tòa nhà Công ty thuốc lá Thăng Long trong khu công nghiệp "Cao - Xà - Lá" với ban công cong, tường hai lớp vừa tạo hình vừa chống nắng, chụp năm 2023. Ảnh: Triệu Chiến
Sau năm 1975, khi sản xuất được khôi phục và mở rộng, trong khuôn viên nhà máy xuất hiện một lớp kiến trúc mới do các đơn vị Việt Nam tự thiết kế và xây dựng. Đáng chú ý nhất trong lớp xây dựng này là nhà hành chính quay mặt ra đường Nguyễn Trãi với mảng tường hoa gió, như một lớp vỏ thứ hai, vừa chắn nắng, giảm bức xạ cho không gian phía sau, vừa tạo nên một bề mặt trang trí lớn. Nhịp cột bê tông khỏe khoắn chia mặt đứng thành những khoang đều đặn, trong khi hàng nghìn lỗ thoáng nhỏ tạo độ rỗng và bóng đổ liên tục. Đó là một thủ pháp rất đặc trưng của kiến trúc Hiện đại nhiệt đới Việt Nam những năm 1970–1980, điều chúng ta cũng thấy ở các công trình Cung Thiếu nhi Hà Nội, Bưu điện Bờ Hồ.
Năm 2025, khu công nghiệp Cao - Xà - Lá đã được giải tỏa toàn bộ để xây dựng khu nhà ở cao tầng. Điều này gây ra sự đáng tiếc đối với giới kiến trúc sư và bảo tồn, vì đáng lẽ ra có thể tái sử dụng thích ứng một phần của nhà máy làm không gian sáng tạo, bên cạnh việc vẫn cho phép chuyển đổi thành chung cư.
Khách sạn Thắng Lợi
Tháng 9/1973, Fidel Castro là nguyên thủ nước ngoài đầu tiên đặt chân tới vùng giải phóng miền Nam Việt Nam khi chiến tranh vẫn chưa kết thúc. Trong chuyến thăm ấy, ông quyết định hỗ trợ Việt Nam 5 công trình kinh tế, trong đó có Khách sạn Thắng Lợi tại Hà Nội, Bệnh viện Việt Nam - Cuba ở Đồng Hới, trại bò Mộc Châu, trại gà Lương Mỹ và tuyến đường Xuân Mai.
Công trình được kiến trúc sư Quintana thiết kế và triển khai rất nhanh sau đó, đến ngày 26/7/1975 thì khánh thành. Với 156 phòng, Thắng Lợi là khách sạn có quy mô lớn nhất miền Bắc Việt Nam lúc bấy giờ, được xây dựng để đáp ứng nhu cầu đón các đoàn khách quốc tế trong một Hà Nội đang bước sang thời kỳ mới. Cuba đưa sang Việt Nam kiến trúc sư, kỹ sư, công nhân và phần đáng kể cấu kiện, vật liệu, thiết bị; phía Việt Nam cũng trực tiếp tham gia quá trình thiết kế và thi công.
Điều đặc sắc của Khách sạn Thắng Lợi là không tìm kiếm tính hoành tráng bằng chiều cao mà hòa hợp với không gian mặt nước Hồ Tây. Trên khu đất lớn sát Hồ Tây, các khối nhà thấp tầng được trải dài theo phương ngang, len giữa cây xanh và mặt nước. Hai khối phòng ngủ vươn một phần ra hồ, được nâng trên những hàng cột, khiến công trình vươn ra mặt nước. Ban công sâu, những vách ngăn giữa các phòng, hành lang cầu, bể bơi và bến thuyền cùng tham gia vào một bố cục mở, cho phép khách sạn tiếp xúc tối đa với gió, ánh sáng và cảnh quan Hồ Tây.
Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt - Xô
Khởi công năm 1978 và hoàn thành năm 1985, Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt - Xô là món quà của Công đoàn Liên Xô dành cho công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam. Trên nền Nhà Đấu Xảo cũ, kiến trúc sư Garold Grigorevich Isakovich, cũng là người thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và vườn hoa Lenin, tạo nên một tổ hợp văn hóa quy mô lớn gồm nhà biểu diễn, khu học tập, câu lạc bộ, triển lãm và hội nghị.
Cung Việt - Xô mang rất rõ dấu ấn của kiến trúc Xô viết hậu chiến: bố cục lớn, cân xứng, hình khối khỏe và tính hoành tráng được đặt lên hàng đầu. Mặt chính được kéo dài theo phương ngang, phía trước là khoảng sân rộng; một mái lớn như tấm bản mỏng vươn ra, phía dưới là hàng cột đứng đều đặn và những mảng kính lớn. Trang trí được tiết giảm để chính tỷ lệ, nhịp cột và cấu trúc công trình tạo nên vẻ trang trọng.
Đặt cạnh nhau, các công trình kiến trúc này cho thấy một quá trình rõ ràng: kiến trúc hiện đại được đưa vào miền Bắc đã dần trở thành một phương thức tổ chức không gian. Chúng ta đã có một lớp kiến trúc của thời kỳ đầu xây dựng, kiến thiết sau chiến tranh và đã góp phần hình thành một diện mạo kiến trúc hiện đại riêng của miền Bắc.
Kiến trúc hiện đại để lại một chương độc đáo trong lịch sử kiến trúc Việt Nam và không có "hậu duệ" rõ ràng. Khi đất nước mở cửa, các trường phái kiến trúc đương đại du nhập vào nước ta, trăm hoa đua nở. Đôi khi vẫn có thể nhận ra sự ảnh hưởng của kiến trúc hiện đại lên trào lưu kiến trúc xanh, trong việc sử dụng một số thủ pháp thích ứng với điều kiện khí hậu nóng ẩm như tường hai lớp, lam che nắng... nhưng về cơ bản, kiến trúc Hiện đại thời Bao cấp không lặp lại, ít truyền thừa, gắn chặt với thời đại của nó. Chính vì vậy, giá trị di sản của nó càng trở nên thuyết phục.