Trải dọc theo các cung bậc lịch sử và xuyên suốt các nền văn hóa, các nhà tư tưởng đã cố gắng bước vào vương quốc của ánh sáng để giải mã những bí mật của nó.
Thời cổ đại, ánh sáng luôn được con người sử dụng như một công cụ quyền uy. Sức mạnh của ánh sáng hiện diện trong tất cả các truyền thống tâm linh lớn và những tông đồ tôn giáo đón nhận ánh sáng với một quyền lực siêu hình bất tận. Người Hy Lạp (Empedocles) ví ánh sáng như linh hồn của các vị thần và phát khởi từ ngọn lửa nội tại bên trong mỗi chúng ta. Đối với Cơ đốc giáo, ánh sáng là hiện thân sức mạnh tinh thần của Chúa. Những thánh đường thời Trung Cổ mang đậm kiến trúc gothic, biến thành cung điện ngập tràn những tia sáng để tưởng nhớ vinh quang đấng tối cao.
Những nhà nghệ thuật thì cảm nhận ánh sáng như một sự phô diễn thẩm mỹ của con người về vũ trụ. Cezanne, bên bờ sông thơ mộng, đã vẽ những cảnh giống nhau dưới những tông màu khác biệt. Còn Monet chìm đắm trong suy ngẫm suốt hàng giờ đồng hồ về những hành xử của ánh sáng và các bóng đổ trên tác phẩm điêu khắc trước mặt tiền của thánh đường Rouen. Dù trên phương diện nào đi nữa, ánh sáng cho phép chúng ta thưởng ngoạn và tương tác với thế giới, đóng một vai trò quan trọng khi người họa sỹ muốn trải nghiệm vũ trụ thông qua những bức tranh. Mỗi khi chúng ta nhìn ngắm các bức họa của Rembrandt, Hokusa#, van Gogh hay Monet đều cảm nhận rõ điều này. Tuy nhiên, luật phối cảnh dựa trên nguyên lý truyền thẳng của tia sáng giữa trường phái hội họa phương Đông và phương Tây vẫn thấp thoáng đâu đó một vài điểm khác biệt.
Trong khoa học, ánh sáng đóng một vai trò quan trọng, là sứ giả mang thông tin giữa con người và vũ trụ, cho phép loài người vươn tới các vì sao. Bằng việc giải mã những mật mã vũ trụ mà nó mang theo, nhà khoa học có thể nhận biết được thành phần hóa học của các thiên hà cũng như sự giãn nở không-thời gian, đồng thời hé lộ cho chúng ta về một quá khứ xa xăm, một hiện tại và cả tương lai tối hậu của vũ trụ.
Ban đầu, con người quan niệm rằng, sở dĩ chúng ta nhìn thấy vạn vật trong thế giới là do đôi mắt chiếu các tia sáng lên chúng. Nhưng 1500 năm sau đó, nhà khoa học Ả-Rập Alhazen đã thay đổi suy nghĩ về sự truyền của tia sáng và cho rằng, tia sáng phản chiếu từ vật đến đôi mắt thay vì ngược lại. Xuyên suốt các thế kỷ tiếp sau, những cuộc luận bàn sôi nổi xung quanh bản chất của ánh sáng vẫn không dứt. Trong khi Newton cho rằng ánh sáng có bản chất hạt thì Young, Faraday và Maxwell lại nghĩ, ánh sáng là các sóng truyền trong một môi trường đặc biệt, một chất bí mật gọi là "ether", choán đầy không gian. Thật may mắn, đầu thế kỷ 20, Planck và Einstein đưa ra ý tưởng về các lượng tử ánh sáng và cơ học lượng tử đã dung hòa hai quan điểm đối cực này. Bên cạnh đó, "nguyên lý bổ sung" của Borh cũng đã chỉ ra rằng, hai mặt của ánh sáng không hề loại trừ nhau, mà trái lại, tương hỗ cho nhau. Thực tại mất dần tính khách quan và trở nên chủ quan. Bởi vì ánh sáng, cũng giống như Janus, sẽ là sóng hay hạt hoàn toàn phụ thuộc vào cách thế mà ta quan sát cho nên không thể nói nó hiện hữu như một thực thể tự thân. Một lần nữa chính Einstein đã tống khứ quan niệm về "ether" và tiên đoán đường truyền của tia sáng sẽ vẽ lên bức tranh về sự cong của không-thời gian gây bởi lực hấp dẫn của vạn vật.
Suối nguồn của cuộc sống
Vũ trụ tràn ngập và được trang hoàng bởi ánh sáng. Những tia sáng khởi thủy được sinh ra trong thời khắc đầu tiên của Big Bang, từ một điểm không gian vô cùng nhỏ choán đầy năng lượng và sau đó giãn nở theo một hàm số mũ (gọi là sự lạm phát). Ở đó là cội nguồn của không gian và là bắt đầu của thời gian. Pha lạm phát kết thúc ở thời điểm 10-32 giây sau Vụ nổ. Sau đó, vũ trụ giãn nở chậm dần và ngày nay chúng ta vẫn có thể quan sát được sự giãn nở này. Trải qua những pha tiến hóa bi hùng, chính ánh sáng là nguồn cội hình thành nên những viên gạch vật chất. Từ một chân không choán đầy bởi năng lượng, xuất hiện một thứ súp nguyên thuỷ của vật chất tạo bởi các hạt quark, electron, photon, neutrino và tất cả các phản hạt của chúng. Bởi vì có sự ưu tiên tinh tế cho vật chất hơn là phản vật chất, khoảng một phần tỷ, nên chúng ta sống trong một vũ trụ được cấu thành bởi vật chất với một tỷ lệ khoảng 1 tỷ photon cho mỗi hạt vật chất.
Thiên hà I Zwicky 18 là một trong những thiên hà trẻ nhất trong vũ trụ ở gần chúng ta. Ảnh chụp với kính viễn vọng không gian Hubble bởi Trịnh Xuân Thuận và Izotov. (NASA) |
Không có người mẹ Mặt trời, chúng ta không có mặt ở đây. Sự sống được nuôi dưỡng bởi các quá trình quang hợp. Ánh sáng mặt trời được hấp thụ bởi các phân tử diệp lục, mang màu xanh cho cây cối, chuyển nước trong thân cây và CO2 trong khí quyển thành oxy và đường. Chặng đường tiến hóa dài dằng dặc của Hệ mặt trời cùng với các quá trình địa chất, hóa học, sinh học... có sự tham gia của ánh sáng đã mang tới sự sống ngập tràn Trái đất sau 4,6 tỷ năm. Rồi trên hành tinh bé bỏng đó con người xuất hiện, những sinh vật có khả năng đặt những câu hỏi về vũ trụ, gán cho nó một nguồn gốc và đánh giá vẻ đẹp thánh thiện cùng sự hòa điệu tuyệt vời của nó. Ánh sáng mang lại cho chúng ta cảm xúc. Một ngày u ám đè nặng tâm hồn trong khi những tia nắng Mặt trời làm cho trái tim chúng ta ngập tràn niềm hạnh phúc. Ánh sáng là suối nguồn của sự sống trên quả đất.
Đối với tôi, vũ trụ chẳng có ý nghĩa gì cả nếu như không có một loài có trí khôn để có thể thưởng ngoạn được vẻ đẹp cùng sự hòa điệu tuyệt vời của nó. Và tôi cũng không tin rằng khoa học sẽ giải quyết tất cả những câu hỏi. Chúng ta sẽ không bao giờ tháo gỡ được hết những bí mật của tự nhiên. Chúng ta có thể tiếp cận đến gần sự thật chứ không bao giờ đặt chân đến cuối con đường để hiểu được tất cả. Khi một câu hỏi được sáng tỏ, sẽ có rất nhiều câu hỏi khác xuất hiện. Trong vũ trụ luôn có những điều huyền diệu và bí ẩn, những điều nằm ngoài trí tưởng tượng và suy luận thuần tuý của loài người, vượt xa những gì chúng ta có thể cảm nhận được |
Tất yếu hay ngẫu nhiên
Tuy nhiên, sự sống không đơn thuần chỉ là một trò cá cược. Ngành vũ trụ học đương đại đồng thời cũng đem đến cho ta nhận thức rằng, vũ trụ này được hòa điệu trong một mức độ chính xác tuyệt vời đảm bảo cho sự xuất hiện của sự sống và ý thức. Nếu vũ trụ này bao la là bởi vì sự mênh mông này cần thiết cho sự xuất hiện một người quan sát có khả năng thưởng thức vẻ đẹp, sự hài hòa đó, và đem đến cho nó một ý nghĩa. Như nhà vật lý học Freeman Dyson đã phát biểu:
Tinh vân Carina (NGC 3372) với những ngôi sao trẻ được hình thành |
Đi tìm sự hòa điệu
Những sinh vật có tri giác như chúng ta có thể đặt câu hỏi: Cái gì đã tạo nên sự hòa điệu tuyệt vời này? Chúng ta có thể cho đó là một ngẫu nhiên tình cờ. Trong trường hợp này ta cần phải đi đến một giả định rằng đã có sự hiện hữu của vô số vũ trụ (mà các nhà vật lý gọi đó là đa-vũ-trụ). Đã có không ít những lối giải thích về lý thuyết Big Bang làm cơ sở cho thuyết đa-vũ-trụ. Ví dụ như nhà vật lý Nga, Andrei Linde, đã khai triển lý thuyết cho rằng, vũ trụ của chúng ta chỉ là một trong vô số những vũ trụ phát khởi từ vô số lượng những đám bọt lượng tử sơ khai trôi nổi bập bềnh trong vũ trụ meta.
Ánh sáng là khởi nguồn của sự sống và sự hòa điệu của vũ trụ gói gém cả trong từng cánh hoa |
| Con người đã thu nhỏ lại không chỉ trong không gian mà còn cả về mặt thời gian. Nếu ví 14 tỷ năm của vũ trụ như 1 năm, thì con người đầu tiên xuất hiện trên Trái Đất chỉ vào thời điểm 10giờ 30 phút ngày 31 tháng 12 (khoảng 2 triệu năm trước, ở một nơi nào đó của châu Phi). Có nên tuyệt vọng hay không một khi chúng ta cảm thấy mình hình như rất vô nghĩa trước vũ trụ? Và như thế, có nên chấp nhận quan điểm của nhà sinh học người Pháp đoạt giải Nobel, Jacques Monod, cho rằng "con người xuất hiện một cách tình cờ trong vũ trụ vốn dĩ cũng rất lạnh lùng và dửng dưng", hay như nhà Vật lý đoạt giải Nobel người Mỹ, "Chúng ta càng hiểu biết về vũ trụ chừng nào, hình như càng thấy vô nghĩa thêm chừng nấy"? Tôi thì không nghĩ như thế. Cho đến khi chúng ta tiếp xúc được với một nền văn minh nào đó ngoài địa cầu, Con người vẫn còn đóng một vai trò quan trọng, đó là mang cho vũ trụ một ý nghĩa. |
---------------------
* GS Trịnh Xuân Thuận (Đại học Virginia) vừa nhận được giải thưởng Gran Prix Moron của Viện Hàn lâm Pháp cho tác phẩm gần đây của ông "Những Con Đường Của Ánh Sáng". Đây được đánh giá là một tác phẩm khoa học và triết học sâu sắc đối với công chúng yêu khoa học. Cuốn sách đã được dịch ra tiếng Việt và sẽ được NXB Trẻ phát hành vào đầu năm nay.



