Những đổi thay trong lòng di sản
Hai năm trước chuyến đi đầu tiên của tôi xuất phát từ mong muốn tìm hiểu về các lò nung gạch Mang Thít truyền thống có kích thước và khối tích lớn hình trứng độc đáo. Sau nhiều lần đến và đi, đôi khi tôi quay lại không vì mục đích gì ngoài nhập mình vào đời sống miền Tây, một đời sống vốn nên nếp bởi dòng chảy của nước.
Kênh Thầy Cai - nơi có mật độ lò gạch dày đặc nhất còn lại ở Mang Thít. Ảnh: Nguyễn Khánh Vũ Khoa
Mang Thít, địa danh thuộc địa bàn tỉnh Vĩnh Long, còn có tên gọi xưa hơn là Măng Thít hay Mân Thít. Nếu truy lại sử liệu, Mân Thít là tên được dùng đầu tiên để gọi vùng đất này trong sách vở, xuất hiện trong các sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Đại Nam Quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của.
Chữ "Mang" trong Mang Thít khiến tôi nghĩ đến Mang Khảm - tên gọi trước đây của Hà Tiên. Có lẽ các tên này đều có nguồn gốc từ các cộng đồng Thủy Chân Lạp (cư dân Óc Eo, vốn là dân bản địa của đồng bằng sông Cửu Long) và Lục Chân Lạp (cư dân Khmer). Từ Mân Thít đến Măng Thít và bây giờ là Mang Thít là kết quả của việc đọc trại âm hay biến đổi ngữ âm qua thời gian.
Là một nghệ sĩ làm việc với gốm như chất liệu chính, Linh San đã dành thời gian đi thực địa ở các làng gốm khắp các miền đất nước. Từng bài viết trong chuỗi bài viết tới đây của cô là những quan sát và ghi chép trong các chuyến đi thực tế, kết hợp với những thông tin tư liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu riêng.
Cô cho rằng, dù sáng tác và thực hiện các tác phẩm mang tính đương đại đầy ý niệm, trượt ra khỏi khuôn phép của tạo hình truyền thống, thì việc trở về truyền thống hay đi sâu tìm hiểu vốn văn hóa chất liệu của Việt Nam luôn là điều thiết yếu. Bởi như họa sĩ Nguyễn Gia Trí từng viết: "Theo ngọn thì vô cùng, trở về gốc thì có tất cả."
Từ Sài Gòn, tôi đi xe khách đến bến xe thành phố Vĩnh Long, đi tiếp một chặng trung chuyển và xuống ở chợ Mỹ An, từ chợ bắt một cuốc xe ôm nữa để đi sâu vào khu dân cư nằm dọc hai bờ kênh Thầy Cai - nơi có mật độ lò gạch dày đặc nhất còn lại ở khu vực Mang Thít. Năm 2021, UBND tỉnh Vĩnh Long phê duyệt Đề án Di sản đương đại Mang Thít, trong đó việc dừng phá dỡ các lò gạch hiện trạng được đề cập như một trong các nhiệm vụ chính của đề án.
Năm 2024, trong "lòng" di sản có duy nhất Homestay Mười Tâm. Nhưng chỉ trong vòng hai năm, nhiều nơi nghỉ mới mở ra, những tiềm năng du lịch văn hóa cũng kéo theo nhiều khách phương xa đến đầu tư. Một số chủ hộ địa phương bán lại lò gạch và xưởng sản xuất cũ ven sông để chuyển ra ngoài lộ sống, bởi bây giờ việc di chuyển bằng đường bộ thuận lợi hơn nhiều so với đường thủy, nhất là khi họ không còn dựa vào nghề đi ghe hay sản xuất gạch để kiếm sống.
Trước khi đến đây, tôi hình dung khu vực phân bố của lò gạch truyền thống nằm trên một phạm vi rộng. Khi đi thực địa, đúng là các lò gạch phân bố trên một diện tích lớn được xác định bởi ba con kênh chính là Mỹ An, Thầy Cai và Nhơn Phú cộng thêm vòng cung phía nam của kênh Hòa Tịnh. Nhưng ngoài khu vực dọc hai bờ kênh Thầy Cai, mật độ lò nằm rải rác, lẻ tẻ, phần lớn không còn hoạt động sản xuất.
Điều này khiến tôi lần lại những năm 2000-2010, khi vấn đề ô nhiễm môi trường tại các vùng sản xuất gạch của đồng bằng sông Cửu Long còn đương nhức nhối, nhiều lò gạch truyền thống được dỡ bỏ để thay thế bằng các lò nung sử dụng công nghệ mới. Một nguyên nhân khác khiến nhiều hộ dừng sản xuất là chi phí nguyên liệu đầu vào càng ngày càng đắt đỏ trong khi giá thành sản phẩm lại không cao.
Nhưng nếu tách biệt khỏi các vấn đề môi trường hay hiệu quả kinh tế, các lò gạch nơi đây hình thành một cảnh quan hết sức độc đáo. Khác với những lò hộp ở miền Bắc, lò gạch ở đây có kết cấu hình hột vịt, cao đến chục mét.
Những lò gạch hình hột vịt, cao đến chục mét, tạo nên cảnh quan độc đáo cho Mang Thít. Ảnh: Nguyễn Khánh Vũ Khoa
Vậy những lò gạch này có từ bao giờ? Trong bài viết Gốm đỏ Vĩnh Long, tác giả Nguyên Ngọc có đề cập đến tài liệu chép tay của một người Pháp tên Bataille, "Notice sur L’arrondissement de Vinh Long" (Ghi chép về Hạt Vĩnh Long) đề ngày 11-6-1887, phúc đáp cho Ngài Giám đốc Nội chính, có ghi lại như sau: "Có 1 lò gạch ở thôn Tân Hoa, tổng Bình An (nay là xã Tân Hòa, thị xã Vĩnh Long) và 2 lò ở thôn Thanh Mỹ Đông (nay là phường 5, thị xã Vĩnh Long). Lò hình vuông hay hình tổ ong, mỗi mẻ lò chỉ sản xuất khoảng 1000 viên".
Manh nha từ thế kỉ 19, trải qua thời kỳ phát triển nhất những năm 1990 với hơn 2.000 miệng lò, bây giờ chỉ còn lại khoảng 600 lò (bao gồm cả lò nguyên vẹn, còn sản xuất và lò ngừng hoạt động, xuống cấp).
Thước đo bằng cơ thể và kinh nghiệm
Khi hỏi chuyện những người thợ, tôi được biết rằng những lò gạch ở đây không có dáng giống hột vịt ngay từ đầu mà đã được cải biến nhiều lần từ lò thân hình vuông đỉnh tròn (lò un) và lò tròn do lò vuông bất tiện trong việc tiếp nguyên liệu, còn lò tròn không tối ưu về diện tích xếp gạch bên trong. Kết quả là, trong quá trình sản xuất, phần đọt (đỉnh lò) được điều chỉnh bằng cách xây giật cấp dần lên và vì thế lò bây giờ gần với hình trứng hơn là hình vòm tròn xoe.
Độ cong của thân lò được người thợ cả đo bằng bàn tay và các đốt ngón tay. Ảnh: Nguyễn Khánh Vũ Khoa
Độ cong của thân lò được người thợ cả đo bằng bàn tay và các đốt ngón tay. Mỗi lò chỉ đo theo tay của một người thợ để "đồng đều", còn nếu hai thợ cùng đo thì sẽ trật nhau, do tay mỗi người mỗi khác. Đó cũng là điều đặc biệt trong kiến trúc lò, chúng không do kiến trúc sư thiết kế mà được những người thợ đo đạc và xây dựng dựa trên chính cơ thể và kinh nghiệm của mình.
Tùy vào nguồn vốn và nhu cầu của mỗi nhà mà kích thước của lò được xây lên khác nhau, tuy nhiên, bề rộng lòng lò thường xoay quanh số 9. Ví dụ 8 thước 1, 7 thước 2, 6 thước 3, 5 thước 4, 4 thước 5, đều liên quan đến số 9 cả. Khi có kích thước yêu cầu, người thợ cả lấy một điểm tim trên khu đất, xoay một vòng tròn để lấy dấu làm đế.
Móng thường được đào xuống 3-4 mét. Trước kia, người ta dùng cọc tre đóng móng, mặt móng là thân dừa xếp ngang, đây là cách làm móng thường thấy ở các khu vực ven sông dễ sụt lún. Sau này, người ta chỉ đổ đầy móng bằng cát, vì móng cát có ưu điểm trong việc sửa và gia cố lại khi lò bị nghiêng, cát có thể dễ dàng hút ra, bơm vào để điều chỉnh.
Lò có một cửa và ba ống khói ép sát vào thân lò, cạnh cửa phía bên phải là ban thờ thần lò. Về lý thuyết, chạy trên trục đối diện với cửa lò là ống khói mặt sau, từ ống khói mặt sau chia đều về hai bên ta được hai ống khói còn lại chạy trên một trục vuông góc với trục cửa lò. Điều này giúp cho nhiệt lưu chạy đều bên trong và tỏa đều ra bên ngoài, gạch vì vậy cũng chín đều, giảm thiểu gạch sống ở khu vực phía gần cửa. Mỗi ống khói thông với 4-5 lỗ ở phần chân lò.
Gạch xây lò phải là gạch non. Dùng gạch già thì sau vài bận nung lò sẽ nứt và hở, không kín nhiệt. Nhưng cũng có nhà xây nửa gạch sống nửa gạch chín, gạch chín xếp bên ngoài, gạch sống xếp bên trong, lúc nung đốt thì gạch sống ở lớp vỏ lò bên trong cũng sẽ chín, nhưng độ bền của lò này không bằng loại xây hoàn toàn bằng gạch chín non. Thợ Mang Thít dùng ba loại gạch đặc - gồm gạch thẻ, gạch tàu, gạch mái chèo - làm vỏ; và gạch cát cỡ lớn 35x21x9cm xếp ở cửa vòm lò.
Trước khi đến đây tôi cứ nghĩ chỉ có Mang Thít làm gạch, nhưng khi chạy xe qua các tỉnh thì tình cờ gặp ba lò gạch còn sót lại ở ấp Tân Thành, xã Tân Quy Tây, TP Sa Đéc - không cách làng hoa Sa Đéc là mấy.
Từ gạch đến gốm
Lò gạch Mang Thít và Sa Đéc nhìn qua khá giống nhau, tương đồng về kỹ thuật khi cùng sử dụng bùn trộn cát hoặc đất sét trộn tro - về tính chất đều khá giống vật liệu làm gạch - để làm "vữa" gắn các viên gạch xây lò. Sau khi nung đốt thì phần đất vữa ấy cũng "chín" thành gạch.
Phần tro của trấu khi đốt nếu có bay lên trên, cháy hoàn toàn sẽ trở thành một lớp bụi trắng bám vào vòm đỉnh lò, nên bước vào ngẩng lên sẽ thấy vòm đỉnh lò ám muội trắng. Lớp tro trắng này như muội bếp, được quét xuống, đựng vào thúng, tận dụng để chống dính khuôn cho các cơ sở sản xuất gốm. Phần trấu cời ra từ lò thì đem bán cho người ta trộn đất làm vườn. Trấu thì mua trực tiếp từ thuyền bè trên sông Cổ Chiên, một nhánh của sông Mekong.
Gạch chín được dỡ từ trên xuống qua lỗ trên đỉnh lò. Ảnh: Nguyễn Khánh Vũ Khoa
Sau mỗi lần đốt, lò sẽ được bảo trì những chỗ nứt bằng cách trám, phết hỗn hợp đất sét và tro trắng lên thành lò bên trong. Thường các vết trám này chỉ từ chân lên đến bụng lò, phần đọt ít có dấu vết bảo trì hơn.
Vì cấu trúc lò là dạng hột vịt, nên khi xếp phôi gạch hay xương gốm từ dưới lên trên, thợ xếp sẽ phải chui ra từ lỗ ở trên đỉnh. Sau đó lỗ sẽ được xây bít kín lại. Khi dỡ lò thì dỡ từ trên xuống, nên đầu tiên sẽ phải leo lên dỡ thủng phần đỉnh. Thật thú vị là nó giống cách người miền Tây, miền Nam ăn hột vịt lộn. Sau mỗi lần đốt, lớp đất trét bảo trì trở thành lớp gạch mỏng, nhập thành một với vỏ lò. Lớp này có thể bong tróc ra, như lớp da, rồi cứ thế được đắp thêm những lớp da mới.
Các nhà lò ở Mang Thít chủ yếu làm gạch, phân phối cho khu vực Nam Bộ hoặc xuất sang các nước lân cận. Chỉ có ít nhà làm gốm, và nghề gốm cũng là nghề mới phái sinh sau này, chủ yếu là làm chậu cây cỡ lớn và tượng trang trí tiểu cảnh. Nhưng những năm gần đây hướng sản xuất gốm có nhiều khả quan hơn, do sản phẩm gốm được giá hơn so với gạch.
Một xưởng gốm ở đây có đủ các khâu, từ trộn đất, ra đất thành phẩm và tạo hình, nung đốt, đôi khi showroom cũng cùng khuôn viên với xưởng luôn.
Điều này khác với Bát Tràng vì Bát Tràng phân khâu rất chi tiết. Có nhà chỉ chuyên đất, đôi khi còn chuyên biệt đến mức chỉ làm một loại đất thôi. Có nhà chuyên men, có nhà chuyên sản xuất phôi gốm.
Lò gốm là lò truyền thống nhưng xây thấp hơn và liền vách nhau thành một chuỗi nhiều lò để tận dụng nhiệt. Ảnh: Linh San
Đồ gốm Mang Thít không tráng men, nhiệt đốt trong lò lúc cao nhất chỉ om được đến 870-900 độ và giữ như thế trong vài ngày. Nhiều nhà lò cao và lớn hơn thì đốt cả tháng. 870-900 độ vẫn là quá thấp để nung những chậu cây cỡ lớn, nhưng tất cả các lò đều chỉ đốt bằng trấu với cấu trúc lò một cửa thì mức nhiệt như thế vẫn là tài tình.
Ở Mang Thít, nhà nào làm gạch thì chỉ làm gạch và nhà nào làm gốm cũng chỉ làm gốm, nhưng đều nung trong lò gạch dáng hột vịt giống nhau.
Lò nung gạch thường to và cao hơn lò nung gốm, và hoàn toàn nằm ngoài trời.
Gốm thường được nung trong lò liên hoàn, nghĩa là lò truyền thống nhưng xây thấp hơn và liền vách nhau thành một chuỗi nhiều lò để tận dụng nhiệt.
Một lò gạch thông thường có thể đốt vài vạn viên gạch một lần. Một số nhà làm lò kiểu mới, gọi là lò Hoffman, gồm nhiều buồng lò, vài ngày là đốt xong một chuyến, nhưng chỉ sản xuất được một loại gạch ống và chất lượng gạch kém hơn (dễ bể vỡ), màu cũng không đậm như đốt bằng lò truyền thống.
Tôi để ý chỉ có lò làm gốm mới cẩn thận nhiệt độ, có đồng hồ đo nhiệt đặt ở cửa lò, và có bảng ghi nhiệt độ theo giờ. Ở các lò đốt gạch thì không như vậy, họ ước lượng nhiệt hoàn toàn thủ công. Khi tôi hỏi lúc nào biết gạch chín, một chủ lò bảo mình đốt quen thì mình biết thôi, như nấu cơm vậy. Nhìn màu khói rồi nhìn lửa. Chú còn bảo, gạch, gốm xếp gần lửa kết cấu còn yếu hơn những đồ xa lửa. Tôi hơi ngạc nhiên vì nghĩ gần lửa thì được nhiệt, nhưng hóa ra được nhiệt không quan trọng bằng gia nhiệt đều và từ từ. Lửa có xu hướng hướng lên trên, nên nền nhiệt ở phía trên, xa lửa một chút, lại cao hơn nền nhiệt ở khu vực sát lửa.
Để di sản không thành tàn tích
Những chuyến đi tới Mang Thít với tôi không giống những chuyến đi đến các làng nghề gốm khác. Các làng nghề gốm khác có thể cho tôi những kinh nghiệm, nguyên tắc và kỹ nghệ làm gốm rất cụ thể như làm đất ra sao, tráng men thế nào. Mang Thít vốn là nơi làm gạch trước, một sản phẩm mang tính chất sản xuất hàng loạt và "công nghiệp", hé lộ cho tôi những quang cảnh lớn hơn nằm ngoài chuyện nghề. Như việc nghề gạch ở Mang Thít tồn tại như một hệ sinh thái xoay vòng: tận dụng nguyên liệu tại chỗ để sản xuất; việc chở nguyên liệu đến và chở gạch đi chủ yếu bằng ghe tình cờ tạo nên một sinh kế phái sinh từ nghề gạch - nghề đi ghe đổ vựa. Từ Vĩnh Long, ghe chở gạch đến các vựa lớn như Bến Tre, An Giang. Mỗi chuyến ghe có thể kéo dài từ ba ngày đến cả tháng nếu liên tục có người gọi chở.
Từ Vĩnh Long, ghe chở gạch đến các vựa lớn như Bến Tre, An Giang. Ảnh: Nguyễn Khánh Vũ Khoa
Mặc cho kết cấu lò Mang Thít rất chắc chắn, chân lò có thể dày đến 1 mét 6 và mỏng dần khi lên trên, đến đỉnh lò thì còn dày khoảng 50cm. Dù lớp vữa kết dính ban đầu đã hóa gạch nhưng lại rất dễ "mềm" lại nếu lò không được sử dụng liên tục. Lò lâu năm không sản xuất sẽ có hiện tượng sụt đọt, nghĩa là bị sụp mất phần đỉnh. Chim chóc mang hạt đến và cây cối sẽ mọc lên, bao phủ lấy thân lò.
Chứng kiến vòng tuần hoàn của các trạng thái vật chất, từ đất phù sa mặt ruộng người dân lấy lên làm gạch, qua quá trình nung đốt, đất phù sa ấy chuyển dạng thành một thứ vật chất khác, không phải để nuôi hoa màu, mà để hóa thân thành những ngôi nhà, những công trình xây dựng. Rồi bản thân chiếc lò, được xây nên bằng chính vật liệu mà nó sản xuất - gạch - cũng đến một lúc nào đó trở lại trạng thái dù không hoàn toàn là đất, lại nuôi cây, cỏ dại. Từ vòng đời của lò, tôi thấy cả một sự biến đổi của cảnh quan vật chất, không chỉ ở nơi sản xuất gạch này, mà rộng ra khắp nẻo cảnh quan khác, ở muôn nơi.
Chim chóc mang hạt đến và cây cối sẽ mọc lên, bao phủ lấy những thân lò không còn sử dụng. Ảnh: Nguyễn Ngọc Sơn/Ngôi sao
Giờ đây dù ngày càng ít nhà làm gạch, Mang Thít vẫn có thể giữ gìn sức sống của nó bằng việc chuyển đổi theo hướng đan xen làm gạch và làm gốm để đảm bảo cho người dân có vốn xoay vòng, giữ được nhiều nhất có thể các lò còn nguyên trạng. Tuy nhiên, cần sớm nghiên cứu thêm những giải pháp xanh trong sản xuất, như việc thay thế dầu bôi trơn cho máy đùn gạch bằng một chất an toàn hơn khi đốt, thiết kế hệ lọc khói trước khi thải ra môi trường. Những giải pháp này cần cụ thể, đi vào chi tiết, không nên chuyển đổi hoàn toàn theo hướng công nghiệp hóa. Bởi nếu không giữ được nghề cùng những nếp chân phương của nó, những chiếc lò còn lại sẽ dần thành tàn tích và rất khó để bảo tồn lâu dài.