Liệu truyền thống khoa bảng ở các vùng "đất học" thời xưa có tiếp tục được nuôi dưỡng đến tận ngày nay là câu hỏi đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
Trong một nghiên cứu công bố năm 2023, hai tác giả Vũ Tiến Mạnh và Hiroyuki Yamada ở ĐH Keio, Nhật Bản, đã chỉ ra, huyện nào xưa kia từng có nhiều người đỗ đạt thì ngày nay dân cư có số năm đi học cao hơn, tỷ lệ bỏ học tiểu học thấp hơn, chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình cao hơn, và đặc biệt là điểm thi vào đại học cũng nhỉnh hơn.
Kết quả trên tạo cơ sở để hai tác giả TS. Huỳnh Lưu Đức Toàn (Đại học Queen Mary London, Vương quốc Anh) và TS. Dương Tuấn Kiệt (Đại học York, Vương quốc Anh) đi đến giả thuyết rằng, những vùng từng là "đất học" trong tám thế kỷ khoa bảng Việt Nam có thể cũng là nơi xuất thân của nhiều giáo sư, phó giáo sư ngày nay.
Khoa thi ở Nam Định năm 1897. Ảnh: CC
Sở dĩ hai tác giả liên tưởng đến các giáo sư vì họ tương tự tầng lớp quan lại - sĩ phu trong lịch sử, nhờ uy tín học thuật mà khả năng tiếp cận các mạng lưới quan hệ rộng mở và qua đó gây dựng ảnh hưởng chính trị.
Để kiểm chứng giả thuyết này, hai tác giả đã xây dựng một bộ dữ liệu độc đáo bằng cách kết hợp nhiều nguồn tài liệu, gồm thông tin của 3.022 cá nhân đỗ đạt trong các kỳ thi Hội và thi Đình từ triều Lý đến triều Nguyễn, tương ứng với giai đoạn 1075-1919, và dữ liệu của 1.324 giáo sư và phó giáo sư trong giai đoạn 2021-2023 từ hồ sơ công khai trên website của Hội đồng Giáo sư Nhà nước.
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn sử dụng dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình để kiểm soát các biến số kinh tế - xã hội như thu nhập trung bình, độ tuổi, trình độ học vấn, sử dụng Internet và bảo hiểm nhân thọ tại cấp huyện/tỉnh; dữ liệu tổng điều tra dân số năm 2019 của Tổng cục Thống kê để kiểm soát quy mô dân số và tỷ lệ nữ giới.
Họ cũng khai thác dữ liệu về cường độ bom đạn trong chiến tranh để loại trừ các tác động ngoại cảnh từ lịch sử gần đây, và dữ liệu cấp huyện về số lượng đền thờ tổ họ, trường học và đường phố mang tên các vị đã đỗ đạt thời xưa để phân tích cơ chế truyền dẫn văn hóa.
Mô hình hồi quy bình phương tối thiểu (OLS) được sử dụng để xem xét liệu các khu vực có nhiều danh nhân lịch sử có xu hướng có nhiều giáo sư hiện nay hay không. Đặc biệt, nhóm sử dụng hai biến công cụ: khoảng cách từ mỗi khu vực tới các địa điểm tổ chức khoa cử trong quá khứ, và khoảng cách tới bờ biển gần nhất - một kênh quan trọng để tiếp cận sách vở Trung Quốc và các nguồn tài nguyên giáo dục khác - qua đó, thiết lập mối quan hệ nhân quả thực sự.
Những lợi thế tạo nên vùng đất học
Kết quả nghiên cứu đã xác nhận mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại. Cụ thể, những khu vực có nhiều người đỗ đạt trong các kỳ thi thời phong kiến cũng chính là nơi xuất thân của nhiều giáo sư và phó giáo sư hiện nay.
"Các bậc hiền tài trong quá khứ chủ yếu tập trung ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Và chúng tôi nhận thấy một điều thú vị là đội ngũ giáo sư và phó giáo sư ngày nay cũng tập trung đa số ở hai vùng này", TS. Huỳnh Lưu Đức Toàn trao đổi với Tia Sáng.
"Cứ thêm 100 danh nhân lịch sử ở một khu vực sẽ trung bình hiện nay có thêm khoảng 1 giáo sư/năm ở khu vực đó", nhóm nghiên cứu viết trong bài báo.
Không chỉ vậy, các tỉnh từng có vị trí gần địa điểm khoa cử và gần biển có xu hướng có nhiều giáo sư hơn đáng kể (tổng số giáo sư hiện nay cao hơn khoảng 8 người so với các địa phương khác).
Hai tác giả lý giải, trong quá khứ, việc ở gần kinh đô giúp sĩ tử giảm chi phí "lều chõng đi thi", còn ở gần biển giúp họ dễ dàng tiếp cận với sách vở và tri thức từ bên ngoài, đặc biệt là sách chữ Hán. Những lợi thế này đã định hình nên các "vùng đất học" tồn tại qua nhiều thế kỷ.
Các tân khoa nhận áo mũ. Ảnh: CC
"Trong khi một số nghiên cứu tại Trung Quốc dùng khoảng cách tới các đồi thông, đồi trúc làm biến công cụ để xác định quan hệ nhân quả, thì nghiên cứu của chúng tôi lựa chọn những yếu tố phản ánh đặc điểm lịch sử và văn hóa riêng của Việt Nam," TS. Huỳnh Lưu Đức Toàn cho biết thêm.
Ở Trung Quốc, khu vực nào càng gần đồi thông và đồi trúc thì càng gần các làng nghề làm giấy - tức gần nguồn nguyên liệu để sản xuất sách vở và tài liệu ôn thi. Điều này giúp sĩ tử ở những khu vực đó có điều kiện học tập thuận lợi hơn. "Còn ở Việt Nam, sĩ tử không tự sản xuất sách mà chủ yếu sử dụng sách chữ Hán được nhập khẩu từ Trung Quốc qua đường biển. Do đó, cách tiếp cận của chúng tôi giúp làm rõ hơn những nét đặc thù trong lịch sử và văn hóa Việt", anh giải thích.
Các tác giả hết sức bất ngờ khi nhận thấy tác động của khoảng cách địa lý dường như vẫn tồn tại đến tận ngày nay. Phân tích cho thấy những địa phương càng xa Hà Nội thì các học giả ở đó có xu hướng có ít động lực nộp hồ sơ xét chức danh giáo sư, phó giáo sư hơn.
Tuy nhiên, hiệu ứng này không phải là tuyệt đối. Nếu một vùng đất ở xa trung tâm nhưng từng có bề dày truyền thống khoa bảng trong giai đoạn 1075-1919, thì di sản đó có thể bù đắp phần nào bất lợi của khoảng cách địa lý.
"Những ảnh hưởng của tầng lớp tinh hoa vẫn được duy trì liên tục qua nhiều triều đại và nhiều biến động của lịch sử như thời kỳ thuộc địa hay chiến tranh," TS. Huỳnh Lưu Đức Toàn cho biết.
Điều gì đã giúp cho các di sản của người xưa để lại ảnh hưởng lâu dài như vậy? Theo nhóm nghiên cứu, có một yếu tố đáng chú ý là cơ chế truyền dẫn văn hóa ở địa phương, thông qua việc xây nhà thờ tộc hay đặt tên các cơ sở giáo dục và tên đường phố theo tên các nhân vật tinh hoa lịch sử.
Nhóm tác giả phân tích, nhà thờ tộc là nơi vinh danh tổ tiên, biểu trưng cho sự thành đạt của gia tộc và đóng vai trò như nguồn cảm hứng cho thế hệ sau duy trì truyền thống hiếu học. Tương tự, việc đặt tên các trường học theo tên các vị danh nhân trong lịch sử cũng giúp củng cố các quy chuẩn cộng đồng về việc coi trọng thành tựu học thuật. Những "tấm gương văn hóa" này lâu dần đã giúp các giá trị học thuật được thẩm thấu và lan tỏa trong toàn cộng đồng, góp phần thúc đẩy người dân coi trọng việc học và niềm tin vào sự thăng tiến thông qua con đường học vấn.
Tuy nhiên, truyền thống lịch sử chỉ phát huy tác dụng mạnh mẽ nhất khi người dân duy trì được kết nối với vốn xã hội và các thiết chế văn hóa tại địa phương. Khi một cá nhân di cư đến các thành phố lớn khác, tác động của "vùng đất học" quê hương đối với khả năng đạt học hàm giáo sư của họ cũng có xu hướng giảm bớt.
Tập trung hóa việc phong học hàm gây bất lợi?
Từ những phát hiện trên, hai tác giả cho rằng, việc phong học hàm thông qua Hội đồng Giáo sư Nhà nước đặt tại Hà Nội có thể vô tình duy trì sự chênh lệch về tỷ lệ giáo sư trên cả nước. "Việc đặt hội đồng này ở thủ đô tạo ra ‘chi phí khoa bảng’ giống như khi xưa sĩ tử phải lên kinh đô dự thi," TS. Huỳnh Lưu Đức Toàn nhận định.
Tại Việt Nam, giảng viên có bằng tiến sĩ khi xét chức danh phó giáo sư hoặc giáo sư phải trải qua quy trình đánh giá ba cấp (trường, ngành/liên ngành và Nhà nước) theo Quyết định 37/2018/Q-TTg. Ứng viên được thẩm định dựa trên thành tích nghiên cứu, giảng dạy, kinh nghiệm và hướng dẫn nghiên cứu sinh.
Quy trình cụ thể gồm bốn bước: nộp và bảo vệ hồ sơ ở cấp trường; sau đó, Hội đồng Giáo sư Nhà nước tiếp nhận hồ sơ đề xuất và tổ chức các vòng đánh giá tiếp theo, trong đó ứng viên cần trình bày báo cáo khoa học tại hội đồng ngành/liên ngành, thường được tổ chức tại Hà Nội. Những ứng viên đạt yêu cầu sẽ được cấp giấy chứng nhận từ Hội đồng Nhà nước để chính thức được công nhận chức danh.
Dù nhiều cơ sở giáo dục đại học có chính sách khuyến khích hoặc hỗ trợ tài chính cho ứng viên, các khoản này thường chỉ được trao sau khi ứng viên bảo vệ thành công. Ngược lại, nếu không đạt kết quả, toàn bộ những chi phí liên quan đến quá trình chuẩn bị và tham gia xét phong - từ thời gian, công sức đến các chi phí trực tiếp - đều do cá nhân ứng viên tự gánh - một yếu tố có thể là rào cản với các ứng viên ở xa Hà Nội.
Do đó, nhóm nghiên cứu đề xuất, có thể phi tập trung hóa việc phong học hàm và giao quyền này cho các trường đại học để tạo ra sự tiếp cận công bằng và dễ dàng hơn cho các ứng viên từ khắp mọi miền đất nước.
Trên thực tế, định hướng này đang dần được thể chế hóa trong khung pháp lý mới, theo TS. Huỳnh Lưu Đức Toàn. Luật Giáo dục đại học 2025 (Luật số 125/2025/QH15) quy định, từ ngày 1/1/2026, các cơ sở giáo dục đại học được mở rộng quyền tự chủ, bao gồm cả tự chủ về nhân sự và học thuật. Theo đó, các trường có thể chủ động xây dựng tiêu chuẩn, quy trình và thực hiện bổ nhiệm chức danh Phó Giáo sư, Giáo sư, với điều kiện các yêu cầu không thấp hơn quy định tối thiểu của Nhà nước.
Kết quả nghiên cứu chi tiết của hai tác giả được trình bày trong bài báo "A land of sages: A legacy of former elites and university professors in Vietnam" trên tạp chí Explorations in Economic History (Q1 SCimago và WoS).
---
Tài liệu tham khảo:
Luu Duc Toan Huynh, Kiet Tuan Duong. A land of sages: A legacy of former elites and university professors in Vietnam. Explorations in Economic History, Volume 99, 2026, 101723, ISSN 0014-4983, https://doi.org/10.1016/j.eeh.2025.101723.
Tien Manh Vu, Hiroyuki Yamada, Legacies of Vietnam’s imperial examinations, 1075–1919: More investment in education and better educational outcomes. Journal of Comparative Economics, Volume 51, Issue 1, 2023, Pages 2-14, ISSN 0147-5967, https://doi.org/10.1016/j.jce.2022.09.004