Mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu và phát thải CO2 và các khí nhà kính (GHG) khác đang là một trong những thách thức lớn mà thế giới phải đối mặt. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, năm 2022, Việt Nam góp 0,8% vào tổng lượng phát thải GHG toàn cầu, và hiện là một trong những nước đứng đầu thế giới về tốc độ tăng phát thải.
Trong bối cảnh đó, một nhóm nhà nghiên cứu ở Trường Đại học Mở TPHCM đã thực hiện khảo sát nhằm chỉ ra những yếu tố quyết định lượng khí thải CO2 của các hộ gia đình Việt Nam. Kết quả nghiên cứu được đăng trên SAGE Open (Q1 theo SCImago).
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu về chi tiêu của 9.389 hộ gia đình, được trích từ bộ dữ liệu Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 2020.
Để xây dựng hệ số phát thải phục vụ cho nghiên cứu, các tác giả còn kết hợp thêm dữ liệu từ cơ sở dữ liệu về tài nguyên và vòng đời EXIOBASE - do một nhóm nghiên cứu châu Âu trong dự án EXIOPOL (Policy‐Oriented Environmental Accounting, từ 2007–2011) xây dựng, để tính toán hệ số phát thải CO₂ trong các hoạt động sản xuất và tiêu dùng; bộ hệ số phát thải khí nhà kính Hoa Kỳ EPA; cơ sở về hệ số phát thải CO₂ cho nhiều loại vật liệu và quy trình WRAP của châu Âu.
![]() |
Thu nhập, quy mô hộ gia đình, diện tích nhà ở, số lượng xe ô tô sẽ là những yếu tố góp phần làm tăng phát thải carbon của các hộ gia đình. Ảnh minh hoạ: istock |
Kết quả cho thấy, dấu chân carbon - hay tổng lượng CO₂ được thải ra trực tiếp và gián tiếp bởi một hoạt động, hoặc tích lũy qua các giai đoạn vòng đời của một sản phẩm - trung bình của một hộ gia đình ở Việt Nam vào khoảng 6.959 kg CO₂/năm. Theo thứ tự từ cao xuống thấp, các hộ ở đồng bằng sông Hồng đứng đầu với 8.133 kg CO₂/năm, các hộ ở Tây Nguyên đứng cuối với 6.109 kg CO₂/năm.
Phát thải chủ yếu xuất phát từ các hoạt động như sản xuất, chế biến, tiêu dùng lương thực, thực phẩm của các hộ gia đình (chiếm gần 55%). Hơn 37% phát thải tiếp theo đến từ việc sử dụng điện, nước, năng lượng cho sinh hoạt và xây dựng/duy trì nhà ở. Các phát thải còn lại đến từ việc tiêu thụ dịch vụ, các hàng hóa khác (quần áo, thiết bị điện...) và đi lại.
Xét từ góc độ chi tiêu - vốn chịu tác động của các yếu tố thu nhập, quy mô hộ gia đình, diện tích nhà ở, số lượng xe ô tô - khi các yếu tố khác không đổi, thu nhập tăng 1% sẽ làm dấu chân carbon của hộ gia đình sẽ tăng 0,302%.
Liên quan đến quy mô hộ gia đình, khi hộ có thêm một trẻ em, dấu chân carbon tăng 0,115%; còn có thêm một người lớn, dấu chân carbon tăng 0,132%.
Việc tăng thêm 1 mét vuông diện tích nhà ở cũng làm dấu chân carbon của hộ tăng 0,00138%.
Cuối cùng, khi hộ gia đình sở hữu thêm một chiếc ô tô, dấu chân carbon của họ tăng 0,174%.
Ngược lại, tuổi của chủ hộ lại là yếu tố làm giảm chi tiêu - khi tuổi của chủ hộ tăng thêm 1 năm, dấu chân carbon của hộ giảm 0,0013%.
Các hộ sống ở khu vực nông thôn có dấu chân carbon nhỏ hơn 0,0597% so với các hộ sống ở khu vực thành thị. Các hộ có chủ hộ là nam có dấu chân carbon lớn hơn hộ có chủ hộ là nữ 0,0634%. Các hộ sống trong căn hộ có lượng phát thải carbon lớn hơn 0,0701% so với các hộ sống ở nhà đất. Lượng phát thải của hộ có chủ hộ với trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên cao hơn 0,0743% so với hộ có chủ hộ ở trình độ học vấn thấp hơn.
Nghiên cứu đã bước đầu chỉ ra những yếu tố có thể tác động đến phát thải khí nhà kính của các hộ gia đình, từ đó đem đến những hiểu biết hữu ích cho những chính sách hướng tới giảm phát thải từ sinh hoạt của các hộ gia đình trong tương lai.
Nguồn:
https://journals.sagepub.com/doi/full/10.1177/21582440251359417
Tiến Đạt
