Niede Guidon sinh ngày 12/3/1933 ở Jaú, một thành phố nhỏ ở bang São Paulo. Sau khi học lịch sử tự nhiên tại Đại học São Paulo, bà nhận được bằng cấp tương đương cử nhân vào năm 1958, Guidon về làm giáo viên tại thị trấn nhỏ Itápolis, người dân chủ yếu theo Công giáo La Mã. Nhưng sau khi tố cáo tình trạng tham nhũng trong trường với một tờ tạp chí ở São Paulo vào đầu năm 1959, những người quản lý trường học đã kích động cả thị trấn quay lưng lại với bà.
Là một phụ nữ độc thân lái xe hơi, không đi lễ ngày Chủ nhật và dạy về thuyết tiến hóa, bà là mục tiêu dễ bị nhắm tới trong cộng đồng đa phần bảo thủ ở Itápolis. Căng thẳng càng lúc càng gia tăng, và sau nhiều cuộc biểu tình bạo lực, bà cùng hai nữ giáo viên khác phải chạy trốn dưới sự hộ tống của cảnh sát.
"Chỉ còn thiếu mỗi giàn hỏa để thiêu phù thủy nữa thôi là hoàn thành được bức tranh thời trung cổ", bà kể lại với báo chí.
Cuối năm đó, bà tới công tác tại Bảo tàng Paulista ở São Paulo, công việc này đã khơi gợi niềm hứng thú của bà với lĩnh vực khảo cổ học. Trong một cuộc triển lãm ảnh về hình vẽ trên hang đá của người tiền sử ở Brazil mà bà tổ chức, những du khách tới từ vùng Đông Bắc đã cho bà xem những bức ảnh chụp tranh vẽ ở Piauí – đối tượng mà bà sẽ cống hiến cả đời để bảo tồn.
Nhưng mọi chuyện không diễn ra suôn sẻ. Vào năm 1963, chuyến đi lần đầu của bà đã thất bại khi một cây cầu dẫn vào Piauí sụp đổ. Năm tiếp theo, bà phải rời đất nước và chạy trốn tới Paris khi nghe phong thanh rằng chế độ độc tài quân sự mới đã lật đổ Tổng thống João Goulart để giành quyền sẽ sớm bắt giữ bà.
![]() |
Niede Guidon (1933-2025) là nhà khảo cổ đã thách thức lý thuyết lâu đời về thời điểm con người lần đầu tới châu Mỹ. |
Tại Pháp, Guidon theo học khảo cổ và lấy bằng tiến sĩ tại Đại học Paris vào năm 1975, bà thường xuyên quay lại quê hương để đi thực địa. Năm 1970, bà cuối cùng cũng xem được những hình vẽ trên vách hang ở Piauí. Những tác phẩm nghệ thuật cổ đại này được vẽ bằng các sắc tố tự nhiên như oxit sắt và than củi, mô tả hình ảnh của hươu và chuột lang nước (capybara), khung cảnh đời sống thường ngày như săn bắn, sinh con, nhảy múa và hôn nhau. Sửng sốt trước độ phức tạp của chúng, bà bắt đầu ghé thăm nơi đây thường xuyên hơn, tổ chức nhiều nhóm trèo đèo lội suối dài ngày để lập danh mục của khu vực hóa ra gồm hàng trăm di tích khảo cổ. Năm 1986, bà về hẳn Brazil và sáu năm sau đó chuyển tới São Raimundo Nonato, tại đây bà được cư dân thị trấn gọi là "Doutora" – hay tiến sĩ.
Trong những năm 1990, các cuộc khai quật gần di tích tranh vẽ đã có nhiều phát hiện gây kinh ngạc. Họ phát hiện những bộ xương người 15.000 năm tuổi, các bức tranh hang động ước tính khoảng 35.000 năm trước và bằng chứng về đám cháy từ 48.000 năm trước. Nhiều chất liệu bao gồm tàn tích carbon được cho là từ các hố lửa và công cụ bằng đá sứt mẻ. Khi đưa vào phòng thí nghiệm, các nhà khoa học phát hiện chúng có niên đại 30.000 năm trước. Đây là những bằng chứng làm cơ sở cho kết luận của TS. Guidon rằng con người đã tới lục địa châu Mỹ từ châu Phi qua đường biển, và sớm hơn nhiều so với niềm tin trước đó.
![]() |
Bức tranh hang động trong Công viên Quốc gia Serra da Capivara. |
Nhưng các nhà khoa học khác tỏ ra vô cùng hoài nghi, nhất là những người từ Mỹ tin theo nền văn hóa Clovis – đặt theo một di tích khảo cổ ở New Mexico, nơi có bằng chứng ủng hộ lý thuyết rằng con người nhiều khả năng đã đến châu Mỹ từ 13.000 năm trước bằng cách băng qua một dải đất mà ngày nay là Eo biển Bering nối liền Siberia và Alaska.
Mặc dù các nhà khoa học hiện nay nhìn chung đều đồng ý cho rằng con người đã đến lục địa Bắc Mỹ sớm hơn vài nghìn năm so với cột mốc trên, song các phát hiện của TS. Guidon vẫn gây tranh cãi. Câu hỏi là những vật liệu được khai quật gần di tích tranh vẽ là do con người tạo ra hay là tự nhiên hình thành.
Bất kể đáp án là gì, TS. Guidon là người đã tìm ra, bảo tồn hàng trăm bức tranh vẽ trên hang động có tuổi đời hàng thiên niên kỷ và thu hút được sự chú ý, tiền bạc và nguồn lực tới Piauí.
Năm 1979, nhờ sự kiên định của bà, Chính phủ Brazil đã biến khu vực bán khô cằn, tua tủa xương rồng, nghèo đói của tiểu bang Piauí thành công viên quốc gia. Vào năm 1991, một lần nữa nỗ lực của bà đã thuyết phục được Cơ quan văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) tuyên bố khu vực rộng gần 130.000 hec-ta, rải rác các thung lũng, ngọn núi và đồng bằng là Di sản văn hóa thế giới. Sau đó, bà tiếp tục đóng góp vào việc thành lập hai bảo tàng gần đó: Bảo tàng Người Mỹ, mở cửa năm 1996, và Bảo tàng Thiên nhiên, mở cửa năm 2018. Bà cũng có vai trò lớn lao trong việc thu hút đầu tư về cho thị trấn, dẫn tới việc xây dựng một sân bay mới, một khu trường đại học liên bang và cải thiện đáng kể nền giáo dục công trong khu vực.
"Cách hay nhất để bảo tồn các bức tranh là bảo tồn khu vực xung quanh, và để bảo tồn khu vực xung quanh, bạn phải cung cấp được nguồn lực cho người dân" – nhà khảo cổ học người Pháp Antoine Lourdeau, đồng nghiệp của TS. Guidon trong khoảng một thập kỷ kể từ năm 2006, nhận xét trong một cuộc phỏng vấn. "Tôi không nghĩ rằng phần lớn nhà khảo cổ nhận thức được tác động xã hội từ công việc của họ".
TS. Guidon đặc biệt quan tâm tới việc đào tạo và tuyển dụng phụ nữ sống trong khu vực nơi đàn ông nắm quyền chủ đạo và bạo lực gia đình là chuyện xảy ra như cơm bữa - Adriana Abujamra, tác giả cuốn tiểu sử năm 2023 của TS. Guidon, cho biết. "Tôi đã nghe được rất nhiều lời chứng thực cảm động về bà từ những phụ nữ giành được quyền tự chủ tài chính".
Ngoài làm việc tại công viên và các bảo tàng, một số làm hướng dẫn viên và cảnh vệ, nhiều người dân nơi đây còn sản xuất mật ong và đồ gốm và bán trên toàn quốc thông qua các sáng kiến mà TS. Guidon khởi xướng trong những năm 1990. Có thể nói, những đóng góp của TS. Guidon đã vượt xa lĩnh vực khảo cổ và có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống của người dân bản xứ.
Nguồn:
nytimes.com, apnews.com
Bài đăng KH&PT số 1350 (số 26/2025)
Anh Thơ tổng hợp

