Trụ sở Ủy ban Nhân dân TP Hà Nội là một trong số ít các công trình có tầm vóc của thành phố ngay đầu thời kỳ Đổi mới, lúc kinh tế nước nhà còn nhiều khó khăn. Để phục vụ công trình này, một cuộc thi thiết kế lớn đã được tổ chức. Trong quá trình triển khai, thành phố cũng tập trung toàn lực ngành xây dựng ở đây - từ những nhà thầu tốt nhất đến những vật liệu tốt nhất.
KTS Nguyễn Tiến Thuận - người thầy được nhiều lớp kiến trúc sư kính trọng, là thành viên duy nhất của nhóm thiết kế tham gia trọn vẹn quá trình thi công công trình này. Ông có cuộc trò chuyện với KTS Vũ Hiệp về những kỷ niệm đáng nhớ, chất chứa nhiều cung bậc cảm xúc, từ lúc bản thiết kế còn trên giấy đến lúc bước ra đời thực.
Xây đúng như thiết kế của mình thì là cái phúc
Vũ Hiệp: Thưa KTS Nguyễn Tiến Thuận, việc thiết kế và xây dựng Trụ sở Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân TP Hà Nội đã khởi đầu như thế nào?
KTS Nguyễn Tiến Thuận. Ảnh: NVCC
KTS Nguyễn Tiến Thuận: Thiết kế Ủy ban Nhân dân TP Hà Nội là kết quả của một cuộc thi lớn. Nhóm chúng tôi đại diện cho Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội dự thi - đưa ra hai phương án. Và cả hai phương án đều giành giải cao nhất, giải A.
Cũng vì là đơn vị có phương án đoạt giải áp đảo, thành phố đã quyết định giao cho Trường triển khai thiết kế công trình này. Nhóm thiết kế của chúng tôi gồm các KTS Nguyễn Tiến Thuận, Tạ Thường Xuân, Bùi Quý Ngọc và Trần Xuân Đỉnh. Do tiến độ và tính chất quan trọng của dự án, Thành phố đã bố trí cho chúng tôi nơi làm việc, thiết kế ngay tại công trường. Phương án chính thức cuối cùng tổng hợp những ưu điểm từ hai phương án đoạt giải.
Trước khi triển khai chi tiết bản vẽ thi công, Ban quản lý dự án của thành phố đã rất cẩn thận và bài bản: dành cả một tuần để lấy ý kiến nhận xét, đóng góp từ các kiến trúc sư lão thành như KTS Huỳnh Tấn Phát, KTS Tạ Mỹ Duật... và nhiều chuyên gia khác của thành phố. Xem như đây là hội đồng thẩm tra cuối cùng về đồ án.
Hồ sơ thiết kế được triển khai, dưới sự quản lý của Xí nghiệp Thiết kế Thực nghiệm của Trường. Song thực chất Xí nghiệp cũng chưa có con dấu pháp lý, lúc đó toàn bộ Hồ sơ thiết kế vẫn phải đóng dấu của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.
Công trình này chia thiết kế và thi công thành hai giai đoạn: Giai đoạn đầu là khối chính giữa cao 7 tầng, giai đoạn sau là các khối thấp hơn ở xung quanh. Sau khi khối ở giữa đã thiết kế xong và triển khai thi công, các thầy Xuân, Ngọc, Đỉnh rút về Trường làm các việc khác, còn lại tôi được phân công tiếp tục phụ trách công trình - hoàn tất hồ sơ thiết kế bước sau và giám sát thiết kế hằng ngày trên công trường. Thế nên, sau này nhiều tài liệu viết tác giả công trình chỉ có tên tôi, thực ra là kết quả chung của bốn người.
Nhưng khi công trình bị "ném đá", ông cũng phải một mình chịu dư luận?! Cái từ "máy chém" một số người dùng để mô tả công trình nghe hơi "ác khẩu", nhưng cảm giác uy quyền, thiếu gần gũi của nó thì ông giải thích thế nào?
Đây là vấn đề phải có thời gian mới nói hết được. Khổ nỗi cái "đau" của nghề kiến trúc là tác phẩm của mình lại xây bằng tiền của người khác! Họ xây đúng như tác phẩm của mình thì là cái phúc, còn họ xây không đúng, bị bỏ dở thì ai mà biết được tác phẩm đó như thế nào để mà bình luận!
Anh phải biết rằng công trình này có ba hướng tiếp cận mặt phố, thì có tới hai mặt phố, các khối kiến trúc của công trình chưa được xây dựng, bị bỏ dở cho đến nay. Thế có khác gì mới xem một nửa bức tranh hay nghe một nửa bài hát, thì làm sao đánh giá đúng được!
Thực ra, phía trước công trình - mặt phố Đinh Tiên Hoàng, còn một lớp công trình nữa, bao gồm 5 vòm cuốn, với ý nghĩa tượng trưng cho 5 cửa ô, đồng thời cũng là phần nào nhắc lại hình ảnh quen thuộc của Tòa thị chính cũ ở đây. Lớp công trình này đã được làm móng, đổ cột nhưng không hiểu sao lại không được xây dựng tiếp! Công trình bị để ở tình trạng xây dựng dở dang khá lâu và khó hiểu. Đây không còn là vấn đề học thuật nữa mà đã xen vào đó cả vấn đề xã hội!
Cá nhân tôi thì lại thấy việc ví công trình như cái "máy chém", nếu không kèm theo sự ác ý hay tiêu cực thì cũng hay hay! Nghệ thuật là thước đo của cảm xúc, cái mà chúng tôi muốn tạo ra, muốn nhấn mạnh, muốn làm nổi bật là cái vị thế, cái uy quyền của một cơ quan hành pháp Nhà nước, thì họ cũng đã cảm nhận được như vậy...
Anh có biết không, trong văn bản nhiệm vụ thiết kế của UBND thành phố còn yêu cầu rất kỹ: "Công trình phải được thiết kế sao cho có khả năng tác chiến quân sự trong trường hợp khẩn cấp". Và chúng tôi đã cố gắng đáp ứng mọi yêu cầu của nhiệm vụ thiết kế. Nhưng công chúng lại treo vào đây cái cảm quan "nhẹ nhàng", "gần gũi". Cái mà chúng tôi muốn dùng để tạo sự quen thuộc gần gũi chính là 5 vòm cuốn ở phía trước công trình - thêm lớp không gian chuyển tiếp thân thiện hơn với người dân và mối liên hệ hình ảnh với các công trình khác trên tuyến phố - đã không được xây. Đây đúng là một sự tang thương nghiệt ngã đối với nghề kiến trúc sư! Không phải ai cũng biết sự thật là như vậy, lịch sử là như vậy, cũng như cách đặt vấn đề về nhiệm vụ thiết kế của chính quyền thành phố thời đó là như vậy!
À, mà anh có hỏi rằng: "mình ông phải chịu dư luận?!" thì tôi trả lời anh thế này: dù là một mình tôi hay một phần tư tôi thì vẫn là tôi. Cho đến nay tôi vẫn rất tự hào về sáng tạo của nhóm chúng tôi đối với công trình này tại thời điểm đó.
Trên đồ án Ủy ban Nhân dân TP Hà Nội của nhóm KTS Nguyễn Tiến Thuận, Nguyễn Tiến Thuận, Tạ Thường Xuân, Bùi Quý Ngọc và Trần Xuân Đỉnh còn một lớp công trình gồm 5 vòm cuốn, gợi nhắc hình ảnh quen thuộc của Tòa thị chính cũ ở đây. Ảnh: Lê Đức
Vắt kiệt sức cho một bài toán khó
Thiết kế đã có cả một cuộc thi lớn để tìm kiếm, còn nguồn lực để thi công lúc đó được tổ chức như thế nào vậy, thưa ông?
Vì đây là một trong số ít các công trình có tầm vóc và tính chất quan trọng của thành phố tại thời điểm đó, có thể xem như toàn lực ngành xây dựng của thành phố được tập trung ở đây - những nhà thầu tốt nhất, những vật liệu tốt nhất, đều được huy động cho công trình.
Cũng chính nơi đây đã diễn ra các cuộc thi tay nghề thợ giỏi của thành phố. Công trình này đã là dấu ấn lịch sử, với những khó khăn, những thành tựu của thời bao cấp đã thấm đẫm ở công trình này.
Tôi cũng rất ấn tượng với không khí của những cuộc họp thường kỳ ở công trường lúc bấy giờ. Thời gian xây dựng công trình là 1985-1987, khi kinh tế nước ta vô cùng khó khăn. Có những cuộc họp rất căng thẳng giữa nhà thầu với ban quản lý dự án và lãnh đạo thành phố. Những vấn đề về tiến độ và khối lượng công việc, luôn là chủ đề nóng nhất. Các nhà thầu lo sợ kế hoạch tài chính của thành phố không tương ứng với công việc của họ, ồn ào ý kiến! Nhưng ông Nguyễn Mại - Phó chủ tịch Thành phố phụ trách tài chính, đã làm im lặng tất cả họ bằng cách trả lời vừa khéo léo, vừa cương quyết. Tôi nhớ mãi phong cách của ông trong một cuộc họp: "...Ai chấp nhận tôi thì ở lại họp, ai không chấp nhận tôi thì mời ra về..." Và có thấy ai ra về đâu! Mọi việc đều được khơi thông, vui vẻ. Phải nói rằng, ông Nguyễn Mại đã thuyết phục tôi hoàn toàn - một người lãnh đạo vừa thông minh, tài năng và đầy bản lĩnh!
Thế còn cá nhân ông thì sao, ông có bao giờ rơi vào tình huống phải "căng thẳng" với nhà thầu không?
Một hôm có người mách bảo tôi xem nhật ký công trường và phát hiện ra người ta tự ý bổ sung hai cột đỡ mái sảnh, do xuất hiện vết nứt nhỏ ở phần tiếp giáp giữa cột và dầm công-xôn. Thực ra đây là vấn đề ai cũng đã biết, do sức ép của tiến độ, việc tháo dỡ cốp pha và giàn giáo của nhà thầu không đúng quy trình kỹ thuật, nên mới có hiện tượng này.
Tôi nói với họ, "Mọi việc phải đưa ra bàn để tìm biện pháp xử lý, các anh không thể tự ý làm như vậy được. Nếu các anh cứ làm, tôi sẽ đứng ở đúng vị trí làm thêm cột đó, xem các anh có làm được không!" Họ cười và trả lời: "Chúng tôi sẽ cho công nhân bê anh vứt xuống hồ Hoàn Kiếm". Tôi nói cứng: "Các anh sẽ không lường trước được sự việc này đâu, lúc đó 2.000 sinh viên của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội sẽ có mặt tại đây, nếu thầy giáo của họ bị các anh cư xử như vậy!"
Thấy tôi cương quyết, Ban quản lý dự án Thành phố phải triệu tập họp các bên liên quan để lựa chọn phương án xử lý. Cuối cùng họ phải thực hiện theo phương án của chúng tôi đưa ra và không làm ảnh hưởng gì tới ý tưởng kiến trúc ban đầu.
Ủy ban Nhân dân TP Hà Nội. Ảnh: Vũ Hiệp
Có phải do bám sát công trường mà ông có thật nhiều kỷ niệm đặc biệt với công trình?
Có thể nói là rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ! Một kỷ niệm khác, chúng tôi đã sáng tạo ra một viên gạch gốm để ốp trong nội thất sảnh của tòa nhà. Gạch được đặt hàng tại HTX gốm Thanh Trì. Trong bản vẽ thiết kế có ghi: "Đây là mẫu gạch sản xuất độc quyền cho công trình HĐND và UBND thành phố Hà Nội, tuyệt đối cấm bán ra thị trường, kể cả phế phẩm". Khi gạch đưa về công trình, còn để trong kho, thì đã thấy một nhà dân trên phố Hàng Buồm ốp trên mặt đứng nhà của họ! Thật là trớ trêu! Sau này, viên gạch còn được dùng khắp các vườn hoa công cộng ở Hà Nội. Chuyện buồn cười này ở Việt Nam ta là thế!
Còn nhiều chuyện kỷ niệm lắm, tôi sẽ kể với anh sau. À, có một chuyện rất đặc biệt, không thể không kể cho anh nghe ngay lúc này. Trên trán của mái sảnh nhà chính thiết kế có phù điêu hai con rồng. Yêu cầu sáng tác: hình ảnh hai con rồng chỉ ẩn hiện trong mây, như trên các văn bia lâu đời. Phù điêu đã được các nhà điêu khắc của Đại học Mỹ thuật Công nghiệp hoàn thành và lắp lên mái sảnh công trình đúng như yêu cầu thiết kế. Chỉ vài ngày sau, hình ảnh hai con rồng trên mái sảnh đã bị đẽo phẳng để trát vữa! Thật quá bất ngờ, không thể tưởng tượng nổi! Không biết quyết định này từ đâu? Ban quản lý dự án chỉ nói với tôi rằng đây là quyết định ở "trên". Ở "trên" là ai mà lại không chấp nhận biểu tượng hai con rồng gắn trên công trình đại diện cho "đất Thăng Long"! Được biết, vì yếu tố tâm linh nên không có người công nhân nào nhận việc đục phá phù điêu rồng. Công trường phải thuê hai thanh niên chuyên đục bia mộ để làm việc này. Đấy, chuyện đặc biệt là như vậy đấy, chuyện tang thương ở công trình này là như vậy đấy!
Nhân đây, nói thêm để anh hiểu một nghịch cảnh. Cũng về hình tượng rồng, chỉ sau đó khoảng ba năm, khi tôi thiết kế Nhà họp Chính phủ, chính Thủ tướng Võ Văn Kiệt cho gọi tôi và nói: "Ở công trình này, bất cứ vị trí nào có thể đưa được hình tượng rồng vào" - tất nhiên là trừ sàn nhà và thảm - "chú cần khai thác bằng hết, để tạo ấn tượng con rồng Việt Nam".
Làm thì vất vả như vậy, nhưng sau khi xong thì bị "ném đá" ông cảm thấy thế nào?
Tôi đã nói rồi, cho đến nay, tôi vẫn tự hào về công trình này. Người ta chê trong khi không hiểu đúng về nó, trong khi nó là công trình xây dựng dở dang như tôi đã nói ở trên.
Có thể nói vào thời điểm đó, nhóm chúng tôi đã vắt kiệt sức của mình để giải một bài toán vô cùng khó, từ việc xác định khoảng lùi, đến việc xác định phân vị đứng để diện nhà không bị choán mặt hồ như công trình Bưu điện Hà Nội. Rồi còn tìm cách giữ lại hình ảnh thân quen trên đường phố ở khu vực này...
Cái mới cũng có thể làm tổn hại ký ức
Hiện nay, Thành phố đang có dự định "hạ giải" một số công trình quanh hồ Hoàn Kiếm, trong đó có Trụ sở HĐND và UBND, ông có ý kiến gì không?
Xã hội và thời đại luôn phát triển và thay đổi là một quy luật tất yếu. Cái cũ không còn thích hợp, phải xem xét phá bỏ để phát triển cái mới cũng là bình thường. Song một đô thị có nhiều lớp thế hệ công trình, đại diện cho những giai đoạn lịch sử khác nhau, mới là một đô thị đáng tự hào, mới là một đô thị có nhiều câu chuyện để kể lại cho các thế hệ mai sau. Nếu không cẩn trọng, chỉ vì lối tư duy "nhiệm kỳ", vội vàng phá bỏ chúng là làm mất ký ức đô thị, mất ký ức người dân, cộng đồng.
Những công trình như Nhà khách Bộ Ngoại giao trên phố Lê Thạch của KTS Diêu Công Tuấn, công trình "Hàm cá mập" trên phố Đinh Tiên Hoàng của KTS Tạ Xuân Vạn đều là những công trình của các kiến trúc sư tài năng, mà lịch sử kiến trúc đã từng nhắc đến họ. Những công trình này sống trong ký ức hàng nhiều chục năm của người dân Hà Nội, đều có thể sửa chữa, điều chỉnh thích hợp, không cần phải phá bỏ, xóa đi ký ức một cách phũ phàng như vậy. Với tôi, việc phá bỏ công trình "Hàm cá mập" là một quyết định phí phạm. Sau khi phá đi công trình này, không gian nơi đây trở nên vô duyên một cách khó tả! Nhiều người dân hẫng hụt, không chỉ vì không gian thẩm mỹ của nó, mà còn mất đi một chức năng du lịch cần thiết của hồ Hoàn Kiếm mà du khách đã rất hào hứng.
Theo ông, hồ Hoàn Kiếm cần được cải tạo theo hướng nào?
Phố cổ Hà Nội và các không gian xung quanh hồ Hoàn Kiếm, lịch sử tạo ra nó với kích thước nhỏ hẹp và gần gũi, thích hợp với các hoạt động nhẹ nhàng, thanh cao và văn hiến. Đó chính là hồn cốt của Hà Nội.
Tôi đau lòng phải nói lên điều này, tại sao lại có những quyết định làm hỏng Hà Nội đến như vậy. Trong khi thành phố của chúng ta với quy mô mở rộng hiếm có như thế, thời đại của chúng ta có thể tạo ra nhiều cái "hồ Hoàn Kiếm" hơn thế! Mà sao lại cứ loay hoay với cái hồ đã thuộc danh sách đồ cổ. Mà đồ cổ bị xâm hại như vậy, thì làm sao còn giá trị được nữa.
Với hồ Hoàn Kiếm chỉ nên nghĩ đến hoàn thiện nó, làm cho nó sâu sắc hơn, tinh tế hơn và Hà Nội hơn mà thôi. Những cái mới vô hồn, khoa trương, không phải là sự tiếp thêm ký ức, mà là làm tổn hại ký ức.
Cảm ơn ông đã về cuộc trao đổi!