Cá lịch củ có hình dạng thon dài, sống vùi trong nền đáy, khó phát hiện, nhưng mang giá trị thương mại cao, có loài được bán với giá tới 500.000 – 700.000 đồng/kg. Dù vậy, các nghiên cứu khoa học về thành phần loài, đặc điểm sinh học và hiện trạng nguồn lợi của nhóm cá này hầu như chưa được tiến hành.
Trước thực tế đó, nhóm nghiên cứu ở Viện Hải dương học – Viện Hàn lâm KH&CH Việt Nam, đã triển khai đề tài "Đặc điểm sinh học và hiện trạng nguồn lợi của cá ‘lịch củ’ thuộc họ Cá chình rắn (Ophichthidae) ở vùng ven biển và cửa sông từ Vũng Tàu đến Bến Tre và đề xuất giải pháp phát triển bền vững nguồn lợi".
Trong quá trình khảo sát thực địa, để đảm bảo tính đại diện và đa dạng mẫu, nhiều phương pháp đã được kết hợp. Mẫu được lấy từ các tàu khai thác sử dụng ngư cụ phổ biến như giã cào, te, lồng bẫy tại cảng cá và điểm lên cá. Ngoài ra, nhóm cũng thực hiện khảo sát tại 9 trạm ngoài khơi bằng giã cào. Riêng với cá nhệch, số lượng mẫu thu được khá hạn chế do loài này có tần suất xuất hiện thấp và giá trị thương mại cao nên thường bị ngư dân giữ lại để tiêu thụ.
![]() |
Hai loài cá lịch mới được phát hiện. Ảnh: NNC |
Kết quả, nhóm nghiên cứu đã xác định được 5 loài cá tiêu biểu thuộc nhóm "lịch củ", bao gồm 2 loài mới cho khoa học là Cá lịch mỡ (Ophichthus cuulongensis Vo, Hibino & Ho, 2025) và Cá lịch dài thân đen (O. nguyenorum Vo, Hibino & Ho, 2025). Trong đó, cá lịch mỡ có ưu thế cả về sinh thái lẫn kinh tế. Cá có thể dài hơn 1 m, thành thục sinh sản từ 68,5 cm, đẻ trung bình hơn 31.000 trứng mỗi lần và sinh sản tập trung vào hai giai đoạn cao điểm trong năm vào tháng Ba và tháng Chín, thức ăn chính của chúng là các loài giáp xác nhỏ.
Đặc biệt, nghiên cứu cũng lần đầu tiên ghi nhận sự xuất hiện của loài cá chình Meadia roseni, vốn trước đây chỉ biết đến ở Đài Loan.
Nhóm nghiên cứu ước tính sản lượng khai thác cá "lịch củ" hiện đạt khoảng 150 – 180 tấn mỗi năm, với trữ lượng từ 300 – 350 tấn. Tuy nhiên, việc khai thác chủ yếu bằng giã cào, lưới đáy, lưới te và bẫy rập đang gây sức ép lớn lên quần thể, nhất là khi giã cào tác động trực tiếp đến môi trường sống.
Nhằm bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn lợi, nhóm nghiên cứu khuyến nghị chỉ nên khai thác cá lịch mỡ khi đạt kích thước trên 68,5 cm, sử dụng ngư cụ có mắt lưới lớn hơn 20 mm để tránh bắt cá non, đồng thời hạn chế hoặc cấm hoạt động giã cào tại vùng biển nông dưới 10 m. Việc ngừng khai thác trong mùa sinh sản cao điểm được coi là biện pháp quan trọng giúp phục hồi quần thể, kết hợp với tăng cường tuần tra, kiểm soát hoạt động khai thác ven bờ.
Kết quả nghiên cứu không chỉ bổ sung cơ sở dữ liệu phân loại học và đặc điểm sinh học của cá "lịch củ", mà còn mang lại giá trị thực tiễn cao trong quản lý nguồn lợi thủy sản.
Đề tài nghiên cứu được Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam nghiệm thu, đánh giá xếp loại A.
Lê Minh Đoàn
