Năm 1956, khi Sunshine bắt đầu làm bác sĩ nội trú tại Stanford, chuyên ngành sơ sinh trong lĩnh vực y khoa vẫn chưa tồn tại. Các công ty bảo hiểm y tế không chi trả cho phần lớn dịch vụ chăm sóc trẻ sơ sinh. Vào thời điểm đó, hơn một nửa trẻ sinh non thường tử vong không lâu sau khi chào đời.
Sau một năm công tác tại đây, Sunshine được gọi nhập ngũ và phục vụ hai năm trong Hải quân Hoa Kỳ. Khi ông quay lại Stanford vào năm 1959, lĩnh vực sơ sinh học sắp sửa có bước ngoặt lớn.
Theo Từ điển tiếng Anh Oxford, từ chuyên ngành sơ sinh (neonatology) được sử dụng lần đầu tiên trong cuốn sách "Diseases of Newborn" (1960) của Alexander J. Schaffer, một bác sĩ nhi khoa ở Baltimore. Lúc ấy, khoa sơ sinh của Stanford - một trong những khoa đầu tiên trong cả nước - bắt đầu đi vào hoạt động.
Sunshine được đào tạo với chuyên gia về trẻ sơ sinh Lou Gluck (người sau này phát triển khoa chăm sóc tích cực sơ sinh hiện đại tại Đại học Yale) và đây chính là người đã và khơi lên trong lòng Sunshine mong muốn chăm sóc trẻ sơ sinh.
Năm 1963, con trai thứ của Tổng thống John F. Kennedy là Patrick Bouvier Kennedy đã sinh non sáu tuần. Đứa bé tử vong sau 39 tiếng chào đời. Sự kiện này đã được các tờ báo trên toàn quốc đưa tin trên trang nhất, gây áp lực cho các cơ quan y tế liên bang và nghiên cứu trẻ sơ sinh được dành nhiều sự quan tâm cũng như được đầu tư tài chính dồi dào hơn.
"Câu chuyện của nhà Kennedy là một bước ngoặt lớn" – bác sĩ Sunshine chia sẻ với AHA News, một ấn phẩm của Hiệp hội Bệnh viện Hoa Kỳ, vào năm 1998. "Sau đó, việc xin ngân sách nghiên cứu về chăm sóc trẻ sơ sinh trở nên dễ dàng hơn nhiều".
Sau khi hoàn thành việc đào tạo về tiêu hóa nhi khoa và chuyển hóa nhi khoa – con đường ông chọn vì lúc đó chưa có chương trình đào tạo chính thức bác sĩ sơ sinh, bác sĩ Sunshine về Stanford để điều hành chương trình tiêu hóa nhi khoa. Đồng thời, ông thành lập một nhóm chuyên gia từ các lĩnh vực khác nhau để tìm cách điều trị cho các bệnh nhi nằm trong đơn vị chăm sóc đặc biệt.
Trong thời gian này, một bác sĩ ở Stanford tên Joe Daily đã phát minh ra máy theo dõi ngưng thở đầu tiên để phát hiện khi nào một em bé ngừng thở. Và năm 1962, hai bác sĩ Stanford khác nằm trong số những người đầu tiên tại Mỹ đặt máy thở cho những em bé hô hấp khó khăn.
Sunshine nằm trong nhóm đã cải tiến kỹ thuật thông khí cho trẻ sơ sinh, đôi khi bằng cách tận dụng những sự cố bất ngờ xảy ra với thiết bị. Chẳng hạn, một máy thở trong phòng sơ sinh bị kẹt một van, khiến thời gian hít vào dài hơn và có áp suất khí phù hợp hơn. Nhóm bác sĩ nhanh chóng nhận ra điều này cải thiện khả năng trao đổi khí của trẻ sơ sinh và giúp các bé hồi phục nhanh hơn.
![]() |
Sunshine: Bác sĩ nhi Philip Sunshine (1930-2025) là người tiên phong mở ra chuyên ngành sơ sinh, giúp tăng tỷ lệ sống sót của trẻ sinh non và bệnh nặng. Nguồn: Stanford Medicine Children’s Health |
"Thời gian đó thật thú vị", bác sĩ Sunshine nhớ lại. "Mọi người với các chuyên môn khác nhau đã đưa các kỹ năng của họ vào việc chăm sóc trẻ sơ sinh: bác sĩ chuyên khoa phổi, bác sĩ tim mạch, những người như tôi quan tâm tới các vấn đề đường tiêu hóa của trẻ sơ sinh. Tôi đã học được rất nhiều thông tin và lòng nhiệt tình từ họ và chúng tôi đã có rất nhiều cơ hội để thay đổi cách chăm sóc trẻ sơ sinh".
Trong suốt những năm 1960 và 1970, bác sĩ Sunshine đã phát triển nhiều cách thức để cải thiện cách cho trẻ sơ sinh ăn. Ông tập trung nghiên cứu vào những biến chứng chuyển hóa của việc nuôi trẻ sơ sinh bằng đường truyền tĩnh mạch. Ông cũng chẩn đoán trường hợp đầu tiên được ghi nhận tại Mỹ về tình trạng thiếu hụt ornithine transcarbamylase, một rối loạn chuyển hóa hiếm gặp, và tìm ra tình trạng viêm dạ dày ruột cấp tính khiến trẻ kém hấp thu lactose (đường trong sữa) như thế nào.
"Ông ấy đã thực hiện công trình nghiên cứu tiên phong làm nền tảng cho chúng ta thiết kế các loại sữa công thức khác nhau để nuôi trẻ sơ sinh mà ngày nay chúng ta coi là điều hiển nhiên" - giáo sư nhi khoa David Stevenson cho biết.
Đưa cha mẹ vào phòng chăm sóc
Một tiến bộ quan trọng xuất hiện nhờ sự đồng cảm của các điều dưỡng viên đối với nỗi lo lắng của một người mẹ dành cho đứa con sơ sinh ốm yếu. Lúc đó là vào giữa những năm 1960 và cha mẹ không được phép vào phòng chăm sóc của bện viên. Tuy nhiên, người mẹ này đã tới bệnh viện mỗi tối, "ngồi ngoài phòng chăm sóc và nhìn ngắm đứa con của mình. Điều đó khiến các điều dưỡng viên thấy bứt rứt trong lòng" – bác sĩ Sunshine hồi tưởng.
Nhóm điều dưỡng đã kể với Sunshine về lòng khao khát được lại gần đứa con bé bỏng của người mẹ. Nhóm của ông đã cho phép cha mẹ được vào đơn vị chăm sóc tích cực dành cho trẻ sơ sinh và tiến hành nghiên cứu xem điều này có làm tăng nguy cơ nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh hay không. Đây là nghiên cứu đầu tiên về điều này và kết quả không làm tăng tỷ lệ nhiễm trùng đã đánh dấu sự khởi đầu của việc chăm sóc lấy gia đình làm trung tâm trong chuyên ngành sơ sinh
Ngoài ra, hành động này cũng làm thay đổi mối quan hệ giữa bác sĩ vào điều dưỡng viên. Ví dụ, điều dưỡng viên bắt đầu chú ý thấy các gia đình cần lời giải thích rõ hơn về các vấn đề y tế mà các bác sĩ đã không thể truyền đạt rõ. Họ cũng thường là những người đầu tiên nhận ra các vấn đề ở bệnh nhi trước các bác sĩ. Bác sĩ Sunshine đã mở các buổi họp giữa bác sĩ và điều dưỡng viên để thảo luận về cách giải quyết những vấn đề như vậy.
"Các điều dưỡng viên được khuyến khích nói ra những điều chúng tôi làm chưa đúng. Ban đầu chuyện rất khó khăn, nhưng điều này khiến các bác sĩ và điều dưỡng viên gắn kết chặt chẽ hơn, và điều đó vẫn tiếp tục trong suốt sự nghiệp của tôi".
Ngoài ra, ông cũng nhận thấy việc tiếp xúc da kề da giữa mẹ và con có lợi cho em bé nên đã thúc giục các bệnh viện cho phép cha mẹ vào phòng chăm sóc tích cực để bế con.
Bác sĩ Sunshine đảm nhận vị trí trưởng khoa sơ sinh của Stanford từ năm 1967 đến năm 1989. Trong khoảng thời gian này, ông đã giúp đào tạo hàng trăm, thậm chí là hàng nghìn bác sĩ, những người tiếp tục làm việc trong các đơn vị chăm sóc tích cực trẻ sơ sinh trên toàn thế giới. Khi ông nghỉ hưu vào năm 2022, ở tuổi 92, tỷ lệ sống sót của trẻ sơ sinh ra đời ở tuần thứ 28 là hơn 90%.
Nguồn:
lpfch.org, nytimes.com
Bài đăng KH&PT số 1344 (số 20/2025)
Hiếu Ngân tổng hợp
