Hội họa Hà Lan ghi dấu thế giới với nhiều tác phẩm của những đại danh họa như Rembrandt, Vermeer, van Gogh... nhưng châm biếm thay, nó cũng nổi tiếng với vụ lừa đảo quy mô, có một không hai. Sở dĩ xảy ra điều này là bởi khác với nhiều lĩnh vực, rất khó để xác định một bức họa là thật hay giả, khi phong cách riêng, dấu ấn thời gian, giấy chứng nhận... đều có thể làm giả. Đó là trong trường hợp các bức tranh "đạo nhái" tác phẩm gốc. Nhưng nếu ai đó giả mạo phong cách của các bậc thầy rồi coi đó như bức tranh chưa từng xuất hiện, chưa được công bố thì sẽ ra sao? Hẳn là độ khó để phân định thật-giả càng tăng gấp bội. Và đó cũng chính là cách Van Meegeren – một tên tuổi gần như vô danh trong lịch sử hội họa Hà Lan thế kỷ 20 – đã thực hiện để "cho ra lò" hàng loạt bức tranh được tin là của Vermeer cũng như nhiều tên tuổi khác, thu về hàng triệu USD trong lúc châu Âu bị bao phủ trong bóng đen của Đức quốc xã.
Bằng cách tìm về lời khai của Van Meegeren tại phiên tòa năm 1947 cùng nhiều cuộc phỏng vấn với các sử gia/nhà phê bình nghệ thuật lẫn giới làm tranh giả..., Edward Dolnick không chỉ tái hiện câu chuyện thú vị về "nghệ thuật" của Meegeren mà còn mở rộng ra nhiều đề tài: vì sao vô khối người lại bị lừa, những "thủ thuật" tâm lý học nào đã được sử dụng, các nhà phê bình lão luyện về các danh họa bị "qua mặt" ra sao... Bối cảnh đó cũng đồng thời làm nổi bật chân dung hai nhà đầu cơ nghệ thuật hàng đầu của Đức quốc xã – Adolf Hitler và "cánh tay phải" Hermann Göring.
![]() |
The Forger’s Spell được xuất bản lần đầu tại Mỹ vào năm 2008. Trong ảnh: Bản tiếng Việt. Ảnh: ĐTA |
Khác với nhiều tác phẩm cho thấy ảnh hưởng của Đế chế thứ ba ở khía cạnh quyền lực, chính trị, Phù thủy tranh giả mạo một lần nữa phơi bày sự độc tài của những kẻ đứng đầu nhưng từ góc nhìn của đời sống hội họa. Theo đó, cả Hitler và Göring đều thèm muốn sở hữu bằng được những tuyệt tác hội họa châu Âu. Trong khi Hitler muốn thành lập một bảo tàng ở Linz, thì Göring "noi gương" lãnh tụ, lục lọi và vơ vét các viện bảo tàng cùng các bộ sưu tập cá nhân của châu Âu. Cả hai tự cho mình là những nhà sưu tập nghệ thuật sành sỏi và tin những tác phẩm mỹ thuật cổ điển của châu Âu phải thuộc về người Đức.
Điều này càng dễ hơn trong bối cảnh phức tạp của chiến tranh, giới thượng lưu Do Thái liên tục chạy ra nước ngoài, để lại những "kho báu" sưu tập. Điều quan trọng mà cuốn sách của Edward Dolnick cho độc giả thấy là bản chất trơ tráo của Đức quốc xã. Các tay sai của Hitler và Göring không bao giờ dùng bạo lực để tước đoạt những tuyệt tác, mà bằng những cách "không giống ai" như thỏa thuận đảm bảo an toàn cho chủ sở hữu Do Thái có thể thoát khỏi Hà Lan, mua lại với giá rẻ mạt hoặc trao đổi không ngang giá... mà họ có thể tự hào mình đã sở hữu những tuyệt tác một cách minh bạch. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh ngầm giữa Quốc trưởng và Thống chế cũng được khắc họa, một mặt cho thấy sự gắn bó về chính trị nhưng trong nghệ thuật đây là hai cá thể liên tục so kè lẫn nhau.
Khi quân Đồng minh đến và Đế chế thứ ba sụp đổ, những tác phẩm được giấu trong các toa xe lửa bỏ hoang, chôn sâu dưới điền trang Carin Hall đồ sộ của Göring và nhiều nhất trong các mỏ muối đều được phát lộ. Nhưng không chỉ có những tác phẩm thật được tìm thấy, mà còn có cả những bức tranh giả. Giàu có trong thời đế chế phát-xít, nhưng sau năm 1945, Van Meegeren nằm trong số những kẻ thân phát-xít, cộng tác và hưởng lợi từ bộ máy này bị người dân Hà Lan trả đũa. Bị phát hiện từng giao dịch với giám tuyển của Göring, Van Meegeren buộc phải khai ra sự thật đã nhái phong cách của hàng loạt danh họa nổi tiếng để vẽ nên những tác phẩm giả mạo và thu lợi từ một trong những người đứng đầu đế chế. Cả giới nghệ thuật lẫn yêu hội họa rúng động trước sự thật những bức như Chúa Jesus ở Emmaus, Cô gái với cây sáo, Chúa Jesus với người đàn bà ngoại tình, Cô nương và nhà quý tộc bên cây đàn clavecin... từng được ca ngợi là tuyệt tác mới tìm thấy của Vermeer hóa ra là tranh giả.
![]() |
Bức Chúa Jesus ở Emmaus mà Van Meegeren mạo danh là của Vermeer. Ảnh: Museum Boijmans van Beuningen. |
Dolnick nhìn nhận "phi vụ" lừa đảo của Van Meegeren là có một không hai khi hội tụ được cả ba yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa. "Thiên thời" bởi phần lớn các bức tranh này đều được bán trong thập kỷ 1930, 1940 rối ren, nên chẳng ai nghĩ cần phải tra xét giấy tờ sang tên đổi chủ khi giao dịch. Meegeren cũng rất nhạy bén khi quy nguồn gốc gia đình Do Thái trốn chạy cho những bức tranh này. "Địa lợi" bởi nhà giả thuật ấy đã chọn đúng người để mạo nhận. Không như Rembrandt có quá nhiều "học trò" và tiểu sử sáng rõ, Vermeer sinh thời lại khá khiêm tốn cả về số lượng tác phẩm lẫn các nghiên cứu về ông. Trong hơn 40 năm tại thế, ông chỉ cho ra đời hơn 30 tác phẩm (đã được công nhận), nhưng những tác phẩm này thậm chí còn không được ghi năm hoàn thành, nên các nhà phê bình khó mà xác định những chuyển biến trong khuynh hướng sáng tạo của ông. Trong bối cảnh mọi điều về Vermeer đều mờ ảo, những tác phẩm do Meegeren vẽ càng dễ dàng được chấp nhận. "Nhân hòa" nằm ở nhiều thứ, từ việc Meegeren tuy là một họa sĩ tồi nhưng lại là một người rất tỉ mỉ. Y đã kiên nhẫn tìm cách để làm cho tác phẩm mới vẽ có dấu ấn thời gian ba thế kỷ - điều mà không phải ai cũng làm được. Dolnick đã "thâm nhập" vào giới làm tranh giả để cung cấp cho độc giả những quy trình độc đáo mà giới này sử dụng, từ việc tìm các tấm toan của những tác phẩm kém danh tiếng cùng thời rồi cạo lớp sơn cũ để vẽ lên bức tranh mới, đến việc dùng chất bakelite để tái hiện quá trình khô cứng, tạo thành các đường nứt li ti trên bề mặt tranh lẫn dùng mực in để làm giả bụi bẩn lọt trong khe nứt... Tuy giấy tờ sang tay không được chú trọng, nhưng Meegeren vẫn đảm bảo có đầy đủ, dù chỉ là giả để đảm bảo phi vụ diễn ra trơn tru. Ngoài ra, y không thúc ép bản thân phải vẽ thật giống mà có thể tự do sáng tạo...
Y cũng nắm rõ tâm lý học, biết rằng người ta chỉ tin những gì mình muốn tin, nên đã bám vào các giả thuyết xung quanh Vermeer như ông chịu ảnh hưởng từ danh họa người Ý Caravaggio để vẽ nên Chúa Jesus ở Emmaus, một giả thuyết đã được nhiều học giả đưa ra, để vuốt ve sự tự phụ của họ. Y cũng biết khi ai quá thèm muốn sở hữu bức tranh nào đó, thì chuyện kiểm định hay kiểm tra không còn cần thiết. Hơn cả, y còn biết cách lợi dụng và "điều khiển" các nhà phê bình vì ai cũng muốn nhận mình là người đầu tiên khám phá ra một bức tranh thất lạc của Vermeer cũng như sự ganh ghét giữa các học giả với nhau. Đặc biệt, không thể không kể đến các giám tuyển và viện bảo tàng – những người vì sợ tác phẩm bị bán cho các nhà sưu tập tư nhân mà ngay lập tức vận động nguồn lực để mua lại tranh, từ đó mà hiệu ứng "sợ bỏ lỡ" càng giúp cho việc giả mạo trở nên trót lọt.
Có thể nói, làm ra tranh giả và tuồn vào thị trường là một màn trình diễn và kẻ làm tranh giả, xét về nhiều mặt, là một phù thủy. Cuốn sách của Dolnick không chỉ kể một câu chuyện nghệ thuật li kỳ mà còn tiến hành một cuộc điều tra cặn kẽ về lòng tham, khát khao được công nhận và những giới hạn mong manh giữa thật - giả, tài năng - lừa lọc, nghệ thuật - thủ đoạn...
Bài đăng KH&PT số 1355 (số 31/2025)
Đoàn Tuấn Anh

