Phương pháp sư phạm đại học đã thay đổi rất nhiều trong trong hai thập kỷ qua. Đã qua rồi cái thời việc giảng dạy diễn ra theo bất cứ cách nào mà giảng viên thấy phù hợp. Phương pháp giảng dạy lấy sinh viên làm trung tâm hiện đang hết sức phổ biến, khi các trường đại học tìm cách mang lại cho người học cảm giác chủ động và hợp tác.
Xu hướng đó đã xuất hiện cả trước khi có sự thay đổi trong cách nhìn nhận vai trò của sinh viên từ người học sang người tiêu dùng dịch vụ giáo dục, đặc biệt là ở Anh, với việc tăng gấp ba lần học phí vào năm 2012 - cũng như việc các trường đại học nói tiếng Anh ngày càng phụ thuộc vào mức học phí cao của sinh viên quốc tế. Nhưng việc thị trường hóa giáo dục chắc chắn đã củng cố định hướng lấy sinh viên làm trung tâm trong giảng dạy, khi lãnh đạo các trường đại học và người điều hành các khóa học phải cạnh tranh để thu hút sinh viên - những người thường đưa ra lựa chọn của mình một phần dựa trên điểm số hài lòng của các khóa sinh viên trước đó.
![]() |
Ảnh minh họa: Getty Images |
Tiếp cận lấy sinh viên làm trung tâm cũng trùng hợp với sự gia tăng vị thế của giảng dạy trong các trường đại học, được biểu tượng hóa ở Anh bằng việc ra mắt Khung Giảng dạy Xuất sắc TEF (hệ thống đánh giá chất lượng giảng dạy trong trường đại học) vào năm 2017 - được xây dựng một phần dựa trên kết quả của Khảo sát Sinh viên Quốc gia - như một đối trọng với Khung Nghiên cứu Xuất sắc (hệ thống đánh giá chất lượng nghiên cứu học thuật tại các trường đại học).
Khi TEF ngày càng được chú ý, người ta thậm chí còn thảo luận về việc đánh giá các khóa học dựa trên cường độ giảng dạy - một thước đo được tính theo quy mô lớp học và số giờ tiếp xúc trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên, phản ánh mức độ xứng đáng của học phí mà sinh viên bỏ ra.
Nhưng sau đó, đại dịch ập đến, và số giờ học trực tiếp giảm xuống bằng không - ít nhất là về mặt vật lý - khi việc giảng dạy chuyển sang trực tuyến. Tình hình chưa bao giờ thực sự phục hồi, một số hoạt động giảng dạy vẫn tiếp tục diễn ra trực tuyến, và xuất hiện vô số câu chuyện về các giờ học trực tiếp vắng sinh viên, thậm chí hoàn toàn không có sinh viên.
Hannah Cobb, giáo sư sư phạm tại Đại học Manchester, nhận định trải nghiệm đại dịch càng củng cố thêm định hướng lấy sinh viên làm trung tâm. Đại dịch không chỉ thúc đẩy việc áp dụng các "công cụ kỹ thuật số cho phép giảng viên và sinh viên đối thoại nhiều hơn trong các giờ học", chẳng hạn như thông qua các công cụ khảo sát nhanh và kiểm tra ngắn. Cobb, người trước đây là trưởng bộ phận học tập trực tuyến tại trường, cho biết đại dịch còn "nâng cao nhận thức của chúng ta về việc sinh viên có thể cảm thấy bị cô lập như thế nào và chúng ta cần làm việc cùng nhau theo cách quan tâm, thấu hiểu, để mọi tiếng nói đều được lắng nghe".
Theo Cobb, kết quả là ngày nay các trường đại học chú trọng nhiều hơn vào cảm giác gắn bó và có vị trí trong môi trường học tập của sinh viên; sức khỏe toàn diện của sinh viên (gồm sức khỏe tinh thần, sức khỏe thể chất, sức khỏe xã hội); và những thứ như phương pháp giảng dạy đề cao mối quan hệ giữa giảng viên và sinh viên. Những điều này đã đặt nhu cầu của sinh viên và mối quan hệ giữa họ với giảng viên trở lại làm trung tâm của quá trình học tập.
Các phương pháp lấy sinh viên làm trung tâm cũng phản ánh sự chuyển đổi thế hệ ở sinh viên, mà theo Kate Eichhorn, giáo sư nghiên cứu văn hóa và truyền thông tại trường đại học tư The New School, TP New York, "đã bắt đầu tái cấu trúc giáo dục đại học" từ trước đại dịch.
"Bạn có thể cảm nhận được sự xuất hiện của thế hệ Gen Z," cô nói, lưu ý rằng các thành viên của thế hệ này cởi mở hơn so với các thế hệ trước trong việc nói về sức khỏe tinh thần và nhạy cảm hơn về mặt đạo đức đối với nội dung khóa học – và vì vậy, cũng có xu hướng phản đối nội dung khóa học nhiều hơn.
Nhu cầu về các phương pháp giảng dạy mang tính cảm thông vẫn tiếp diễn sau đại dịch khi cuộc khủng hoảng chi phí sinh hoạt buộc nhiều sinh viên phải ưu tiên công việc bán thời gian hơn việc học. Trong khi đó, theo Rachel Wilde, phó giáo sư về giáo dục tại University College London, những sinh viên mới, những người hoàn thành phần lớn khóa học trong thời gian phong tỏa, lại nhút nhát và ít nói hơn so với các khóa sinh viên trước. "Họ cần nhiều sự giúp đỡ hơn để tương tác với nhau và với chúng tôi", cô nói.
Điều này đặc biệt đúng với sinh viên quốc tế, những người có thể gặp khó khăn trong việc diễn đạt suy nghĩ của mình bằng tiếng Anh và không quen với phương pháp học tập lấy sinh viên làm trung tâm.
"Điều này thực sự khó khăn vì tôi nghĩ rằng một số sinh viên quốc tế kỳ vọng học hỏi từ giảng viên với tư cách chuyên gia", Wilde chỉ ra. "Mặc dù có phần đúng như vậy, nhưng tôi liên tục phải nói, ‘Tôi muốn nghe ý kiến của các em; các em nghĩ gì về điều này?’"
Sự e dè phổ biến này đồng nghĩa với việc "các kỹ thuật chúng tôi sử dụng không còn hiệu quả như trước nữa", Wilde kể. Ví dụ, khi được giao làm việc theo cặp, một phương pháp cho phép sinh viên thảo luận với nhau và báo cáo lại với lớp, đôi khi "các em chẳng nói với nhau một lời nào, điều đó thật kỳ lạ. Tôi không chắc mình đã tìm ra cách nào đặc biệt hiệu quả để khắc phục tình trạng đó."
Wilde cho rằng sự dè dặt này có thể bắt nguồn từ một thế hệ đã lớn lên cùng mạng xã hội và vì thế "cực kỳ ý thức về việc người khác nhìn nhận mình như thế nào mọi lúc". Tương tự, một số sinh viên dường như thoải mái hơn khi tương tác với công nghệ so với tương tác trực tiếp với người khác. Ví dụ, cô đã thấy sinh viên hỏi ChatGPT thay vì hỏi cô trước lớp.
![]() |
Ảnh minh họa: Getty Images |
Jedidiah Evans, giảng viên môn tiếng Anh và viết học thuật tại Đại học Sydney, cũng cảm thấy có trách nhiệm trong việc điều chỉnh phương pháp giảng dạy để phù hợp với sinh viên quốc tế - nhóm có số lượng tăng vọt trở lại ở Úc sau đại dịch, làm dấy lên những ý kiến cho rằng họ đang đẩy giá thuê nhà lên cao ở các thành phố lớn và dẫn đến việc chính phủ áp đặt các giới hạn đối với số lượng tuyển sinh.
"Là một học giả, tôi cảm thấy có trách nhiệm tạo ra một không gian chào đón dành cho những sinh viên bị đối xử bất công," Evans nói. "Nhưng đồng thời, cũng khá thách thức khi ngày càng có nhiều khóa sinh viên học tập trong một môi trường ngôn ngữ không quen thuộc, và bạn cảm thấy rất khó kết nối với họ chỉ vì giao tiếp không hiệu quả. Cần phải tìm ra một sự cân bằng."
Ông cho rằng cũng cần tìm ra sự cân bằng về việc tham gia các giờ học trực tiếp. Evans có những câu chuyện kinh hoàng của riêng mình, khi từng giảng bài cho lớp học chỉ có một người – một trải nghiệm "làm nản lòng" người ủng hộ việc giảng dạy trực tiếp như ông, mặc dù bài giảng đó cũng có sẵn để sinh viên xem trực tuyến.
Evans than phiền đại dịch chỉ càng củng cố thêm cảm giác đang gia tăng trong một số giảng viên và nhà sư phạm rằng các giờ học trực tiếp là "xa xỉ", "kém hiệu quả" và đơn giản là "không hấp dẫn". "Vì sinh viên không thể đến các buổi học trực tiếp [trong thời gian phong tỏa], nên đó là thời điểm "bắt vở" của những người vốn đã muốn chất vấn hoặc hạ thấp vai trò của giờ học trên lớp", ông nói. Và ông lưu ý, khi số lượng sinh viên học trực tiếp giảm, các giảng viên phải trình bày lý do với quản lý của mình nếu họ muốn tiếp tục duy trì cách dạy này.
Evans không phải là người bảo thủ chống lại công nghệ. Đối với học phần nhập môn kỹ năng viết học thuật dành cho đông đảo sinh viên năm nhất thuộc nhiều khoa khác nhau, ông đã thử nghiệm các video ngắn, "rất ngắn gọn, gần như theo phong cách YouTube" mà sinh viên có thể xem khi đang di chuyển. Tuy cách làm của ông được các đồng nghiệp "ca ngợi", ông không cho rằng đó là hướng đi phù hợp đối với những học phần chuyên sâu và mang tính đặc thù theo ngành.
Ông e ngại nếu không còn những giờ học trực tiếp, ông sẽ mất đi một trong những cơ hội quan trọng để kết nối với sinh viên. Dù điều đó có thể chấp nhận được với những lớp rất đông và ít khả năng tương tác cá nhân, nhưng về lâu dài, ông cho rằng giáo dục đang dần mất đi sự kết nối thực sự giữa con người với con người, và đây mới chính là điều ông thấy đáng lo.
Theo nghĩa đó, việc giảng dạy cho sinh viên không hề thuận lợi so với việc giảng dạy cho tù nhân, một công việc khác ông đang làm. Không có quyền truy cập internet hay AI, các tù nhân thể hiện mức độ tập trung và tương tác giống như trong các lớp học truyền thống trước đây, nơi người học chân thành, cởi mở và bộc lộ bản thân nhiều hơn.
Evans bày tỏ, "việc chạy theo các yêu cầu của sinh viên... [có nguy cơ] khiến sinh viên bị đóng khung theo cách nói của giới quản lý đại học, như những ‘người dùng cuối’." Thay vào đó, các giảng viên cần phản biện lại những gì sinh viên nghĩ rằng họ muốn, và đặt câu hỏi: "Trách nhiệm của tôi với tư cách giảng viên là gì?"
Câu hỏi đó đặc biệt phù hợp khi chúng ta bước vào kỷ nguyên AI. Một câu hỏi đặt ra là các giảng viên nên dựa vào AI đến mức nào để ra đề kiểm tra, chấm bài và thậm chí là để AI dạy thay. Những dấu hiệu ban đầu cho thấy sinh viên tỏ ra thận trọng về vấn đề này: một khảo sát gần đây với gần 4.000 sinh viên từ 16 quốc gia cho biết, 55% tin rằng việc lạm dụng AI trong giảng dạy làm giảm giá trị của giáo dục, và 52% cho rằng nó ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học tập của họ.
Câu hỏi còn lại xoay quanh việc sử dụng AI của chính sinh viên. Theo một cuộc khảo sát gần đây khác, lần này với hơn 1.200 sinh viên Úc, cứ bốn sinh viên thì có một người lo ngại rằng họ học được rất ít hoặc không học được gì khi sử dụng AI tạo sinh để học tập - nhưng 11 trong số 20 sinh viên vẫn mong đợi trường đại học cung cấp cho họ các công cụ này.
Phil Newton, chuyên gia về liêm chính học thuật và nhà khoa học thần kinh tại Trường Y của Đại học Swansea, Anh, đồng ý rằng việc sử dụng AI một cách thận trọng trong giảng dạy và học tập là chính đáng. Mặc dù ông "cơ bản là lạc quan" về tác động của AI đối với giáo dục đại học, nhưng "là một nhà khoa học thần kinh dành nhiều thời gian giảng dạy về cơ chế học tập của con người, tôi lo ngại chúng ta sẽ quên mất những điều cơ bản về cách con người học tập", ông nói.
"Việc học là một quá trình tích lũy," ông bổ sung. "Chúng ta học điều mới bằng cách điều chỉnh kiến thức đã có từ trước. Chúng ta học cách đánh giá, phản biện bắt đầu từ các khái niệm và kiến thức cơ bản, rồi dần dần xây dựng thêm trên nền tảng đó. Xã hội mong muốn chúng ta đào tạo ra những người có suy nghĩ độc lập và tư duy phản biện. Nhưng ta không thể đánh giá, phản biện một chủ đề nếu không nắm được những kiến thức cơ bản về nó."
Vậy đâu là ranh giới phù hợp trong việc đáp ứng nhu cầu, mong muốn của sinh viên đối với việc giảng dạy và đánh giá giảng viên, chương trình học? Eichhorn của Trường New School lưu ý rằng mô hình giáo dục khai phóng mà trường của cô theo đuổi mang đến cho sinh viên nhiều lựa chọn về các học phần, và phương pháp giảng dạy dựa trên hội thảo nhóm nhỏ của trường "mặc định rằng tiếng nói của sinh viên đóng vai trò quan trọng trong bất kỳ trải nghiệm học tập nào".
Tuy nhiên, cô lưu ý: "Phương pháp lấy sinh viên làm trung tâm – tức là đặt nhu cầu của sinh viên lên hàng đầu, thay vì nhu cầu của giảng viên hay nhà trường – không đồng nghĩa với phương pháp do sinh viên dẫn dắt." Phương pháp đầu ưu tiên nhu cầu của sinh viên, còn phương pháp sau để sinh viên tự quyết định trải nghiệm học tập nên diễn ra như thế nào, ngay cả khi nó không phục vụ lợi ích chung mà chỉ phục vụ nhu cầu của riêng họ. Đôi khi tôi e rằng chúng ta đã nghiêng về phương pháp do sinh viên dẫn dắt hoặc thậm chí là do sinh viên chỉ huy."
Theo Eichhorn, điều này là hệ quả của việc cho phép sinh viên đánh giá giảng viên và chương trình học. "Bất kỳ sinh viên nào đã đăng ký học, ngay cả khi họ hầu như không có mặt trong suốt học kỳ, đều có thể đưa ra ý kiến của mình. Và thật sự rất khó khăn – đặc biệt với các giảng viên bán thời gian, giảng viên hợp đồng hoặc trước khi được vào biên chế – khi biết rằng việc phớt lờ bất kỳ mong muốn nhỏ hay yêu cầu đặc biệt nào của sinh viên đều có thể khiến họ bị đánh giá tiêu cực."
Vấn đề là sinh viên không phải lúc nào cũng nhận thức được rằng nhu cầu của mình không tốt cho việc học – và trong những trường hợp như vậy, cô tin các nhà giáo dục nên giúp họ nhận ra điều đó.
"Giáo dục hiện đại nhìn chung tập trung vào trải nghiệm tập thể trong lớp học – giá trị của việc học cách lắng nghe nhau, giao tiếp và hợp tác," cô nói. "Tôi nghĩ hầu hết sinh viên vẫn khao khát trải nghiệm này, nhưng tôi cũng cho rằng ngày càng có nhiều sinh viên không xem đó là một mục tiêu nên hướng tới. Một phần của giải pháp ở đây là giúp sinh viên hiểu được giá trị của lớp học như một trải nghiệm tập thể."
Giáo sư Wilde của University College London đồng ý rằng phương pháp giảng dạy do sinh viên dẫn dắt "không nhất thiết có nghĩa là phải làm mọi thứ mà sinh viên muốn. Đặc biệt, trong bối cảnh AI ngày càng phát triển, khiến các kỹ năng con người trở nên quý giá hơn, cô muốn các trường đại học nói rõ với sinh viên "việc học không diễn ra một cách cô lập trong tâm trí cá nhân." Ngược lại, "chính thông qua đối thoại – việc chúng ta tự bày tỏ quan điểm và lắng nghe góc nhìn của người khác – mà chúng ta phát triển các kỹ năng nhận thức bậc cao như phân tích và tư duy phản biện."
Đối với Wilde, phương pháp giảng dạy do sinh viên dẫn dắt "có nghĩa là hiểu được vị trí của sinh viên, họ cần đạt những kiến thức, kỹ năng, và tâm thế ra sao để có thể phát triển tốt ở môi trường đại học, và cần hỗ trợ gì để họ đạt được điều đó".
Ví dụ, với một sinh viên gặp khó khăn trong giao tiếp, cô đã thực hiện những điều chỉnh như cho phép họ chọn chỗ ngồi và tạo ra một không gian an toàn bằng cách cùng cả lớp thống nhất các quy tắc chung. Nhưng nếu những "điều nhỏ nhặt" như vậy là chưa đủ, sinh viên có thể phải "nghỉ học đại học một thời gian để giải quyết các vấn đề của họ", Wilde kết luận.
Vì vậy, dù việc tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của sinh viên nên là "một phần trong quá trình chúng ta thiết kế cách giảng dạy của mình", thực tế đó không nên trở thành "mối quan hệ một chiều kiểu yêu cầu – đáp ứng". Thay vì thế, việc dạy và học cần có "tinh thần hợp tác".
Wilde nhấn mạnh, cùng với việc lắng nghe sinh viên, không nên xem nhẹ kinh nghiệm và chuyên môn sư phạm của giảng viên. Nếu chỉ chạy theo mong muốn của sinh viên mà quên mất nền tảng học thuật và sư phạm vững chắc của giảng viên thì chất lượng giáo dục có thể bị ảnh hưởng.
Nguồn:
https://www.timeshighereducation.com/depth/has-student-centred-teaching-gone-too-far
Bài đăng KH&PT số 1355 (số 31/2025)
Thạch Anh dịch

