Cho đến nay, khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang diễn ra, về khía cạnh chính trị-kinh tế học, ở tầm các học thuyết, nhiều người đã và đang muốn đưa ra các luận điểm khác nhau mang tính "bác học" và "kinh điển" cho cuộc khủng hoảng đang xảy ra. Điều đó cũng có thể có lý, vì vài chục năm nay chưa có một thực tế nào bị xáo trộn sâu và rộng đến như thế trong nền kinh tế toàn cầu, và đã từ lâu, lợi thế cạnh tranh quốc gia dựa trên nguồn tài nguyên khoáng sản cũng cần được định nghĩa lại.
Vai trò của khoáng sản và KHCN trong chiến tranh...
Trong quá khứ, nước Nga Xô Viết đã chiến thắng cả trong hai cuộc đại chiến thế giới không phải nhờ vào nguồn tài nguyên khoáng sản (vì phần lớn các tài nguyên khoáng sản chủ yếu của Liên Xô (cũ) sau này mới được phát hiện ra). Mặc dù Liên Xô (cũ) có nguồn tài nguyên khoáng sản cũng rất phong phú, nhưng vai trò quyết định trong cả hai cuộc chiến tranh lại thuộc về khoa học và công nghệ. Vào năm 1918, trong các thành phố và làng bản của nước Nga Xô Viết đâu đâu cũng thấy khẩu hiệu của Lenin "Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đang lâm nguy". Vòng vây của kẻ thù đang ngày càng thiết chặt xung quanh Nhà nước Xô Viết trẻ tuổi. Các nhà máy đóng cửa vì không có than. Baku (nơi duy nhất đang khai thác dầu mỏ khi đó) bị chia cắt, các vùng còn lại không có dầu mỏ. Các phi công dũng cảm của Hồng quân chiến đấu trên những phi cơ với tỷ lệ một phi cơ của nước Nga Xô Viết đã hết khấu hao chọi với mười phi cơ "made in England" mới tinh. Phi cơ của Hồng quân quá cũ, nhiên liệu thiếu, phải dùng không đúng chủng loại, khi xung trận đã để lại những vệt khói đen xì làm mồi cho hoả tiễn. Chỉ có lòng dũng cảm đã không đủ. Bộ chiến tranh đã phải cầu cứu và các nhà khoa học đã vào cuộc. Nhà Hoá học nổi tiếng của trường MGU là N.D. Zelinski đã điều chế được loại xăng cho máy bay từ những khoáng vật bỏ đi của dầu mỏ. Chiến tranh đã kết thúc với chiến thắng thuộc về phe của N.D. Zelinski.
![]() |
| Nhà Hoá học nổi tiếng N.D. Zelinski đã điều chế được loại xăng cho máy bay từ những khoáng vật bỏ đi của dầu mỏ, góp phần vào chiến thắng của Hồng quân Liên Xô. |
Trong tương lai của xã hội loài người: Khi nguồn năng lượng hoá thạch (than, dầu mỏ, khí đốt) được thay thế bằng hydro, dự kiến đến năm 2100, tổng số phương tiện vận tải của hành tinh chúng ta (theo quy đổi của EC) sẽ lên tới 2,5 tỷ đơn vị, dân số sẽ lên tới 10 tỷ người, và nhu cầu nhiên liệu sẽ đạt con số quy đổi 450 triệu tấn hydro/năm (hiện nay, chúng ta đang dùng chủ yếu là nhiên liệu từ cacbon có đơn vị tính là TOE "tấn dầu quy đổi". Ý nghĩa và vai trò của tài nguyên khoáng sản như than đá, dầu mỏ, khí đốt, uranium v.v. sẽ không còn nữa. Vấn đề quyết định là công nghệ điều chế hydro từ nước. Còn nước, và đặc biệt là nước biển, nước sông, hồ thì quốc gia nào cũng có thể khai thác gần như "vô tư", chẳng hơi đâu phải lo về vấn đề "chủ quyền", "tranh chấp", hay "chồng lấn".
... và trong phát triển kinh tế
Yếu tố bất định về tài nguyên khoáng sản có ảnh hưởng rất lớn đến việc hoạch định chính sách. Những kỳ khủng hoảng giá khoáng sản giảm trong những năm 80, và vào năm 1998, hay những cú "sốc" tăng giá khoáng sản trong năm 2007, đầu năm 2008, và cú "sốc" giảm giá một cách thảm hại vào cuối 2008 đã đủ để cho phép chúng ta rút ra một nhận xét khiêm tốn nhất là không thể dựa vào khoáng sản để phát triển bền vững nền kinh tế.
Có rất nhiều ví dụ về sự phát triển kinh tế xã hội không dựa vào tài nguyên khoáng sản. Về mặt quốc gia, Nhật Bản có thể coi là một hình mẫu phát triển kinh tế không dựa trên nguồn tài nguyên khoáng sản. Bên cạnh Việt Nam, nếu xét về tiềm năng tài nguyên khoáng sản thì Thái Lan thua xa Việt Nam, trong khi Việt Nam đang tụt hậu so với Thái Lan hơn nửa thế kỷ về phát triển kinh tế. Về mặt công nghệ, có thể nói United Company (UC) Rusal - đại gia số 1 của hành tinh về sản xuất nhôm lại đã hình thành gần như từ "hai bàn tay trắng" về bauxite.
![]() | ![]() UC Rusal- đại gia số 1 của hành tinh về sản xuất nhôm lại đã hình thành gần như từ "hai bàn tay trắng" về bauxite |
Nền kinh tế của thế giới và tài nguyên khoáng sản
Trên trang báo điện tử của Chính phủ Việt Nam chúng ta có thể thấy hai số liệu sau:
1/ Thu chi ngân sách Nhà nước: Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm 2008 đến hết 15/9 ước đạt 292,3 nghìn tỷ đồng; trong đó thu nội địa đạt 160,5 nghìn tỷ đồng, thu từ dầu thô đạt 56,4 nghìn tỷ đồng, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 71,6 nghìn tỷ đồng.
2/ Về tình hình xuất khẩu 8 tháng 2008: Giá xuất khẩu tăng vẫn là yếu tố quan trọng giúp giá trị xuất khẩu tăng trong khi lượng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2007. Kim ngạch xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2008 tăng 12,2 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2007 thì trong đó tăng do giá khoảng 8,5 tỷ USD, chiếm 70% tổng kim ngạch tăng thêm.
![]() |
| Yếu tố bất định về giá cả của khoáng sản trong đó có dầu lửa có ảnh hưởng rất lớn đến việc hoạch định chính sách và không thể dựa vào khoáng sản để phát triển bền vững nền kinh tế |
Các nhà phân tích của Goldman Sachs & Merrill Lynch dự đoán trong năm 2009 giá dầu có thể đạt mức 25USD/thùng. Chính phủ Nga của ông Putin đã tính tới kịch bản của nền kinh tế Nga với giá dầu chỉ còn 10USD/thùng (hiện nay đang dao động ở mức 35-37USD). Nền kinh tế của Việt Nam chắc không thể hình dung được nếu mới nghĩ đến giá dầu mỏ chỉ còn 10USD/thùng.
Cũng giống như Nga, nguồn thu chủ yếu của nền kinh tế Việt Nam đang sống dựa vào xuất khẩu dầu. Giá dầu giảm, khó khăn sẽ tăng. Với lượng xuất khẩu dầu thô như hiện nay, ngân sách của Việt Nam chỉ có thể "dễ thở" trong các cân đối với mức giá trên 100USD/thùng. Còn với mức giá đang giảm dần như dự báo trên của Goldman Sachs & Merrill Lynch, nếu nói nền kinh tế của Việt Nam sẽ "có ảnh hưởng" là rất khiêm tốn.
Giá dầu không những có ảnh hưởng lớn, mà còn có ảnh hưởng rất khó tiên lượng. Ngay trong các tháng 6 và 7 năm ngoái, khi giá dầu đạt mức 140USD/thùng, có nhiều nhà "tiên tri" đã dự tính đến cuối năm giá dầu sẽ lên tới 180USD - 200 USD/thùng. Nhưng thực tế đã không xảy ra như vậy, mà hoàn toàn ngược lại.
| Nền kinh tế của Việt Nam đang trên đà phát triển nhanh, nhưng với một cấu trúc hết sức mỏng manh. Chúng ta có tham vọng rất lớn, có nhu cầu phát triển rất cao, nhưng có tầm nhìn và khả năng dự báo hết sức hạn chế v.v... Tất cả những vấn đề đó đang đặt ra cho chúng ta một sự lựa chọn rất rõ ràng là phải phát triển một nền kinh tế bền vững, trong sạch và hiệu suất cao. Đó chính là nền kinh tế dựa vào tri thức. Tài sản vô tận của quốc gia là tri thức, còn khoáng sản chỉ là tài sản có hạn, không thể tiếp tục tư duy về phát triển kinh tế theo định hướng dựa vào tài nguyên khoáng sản. |
Mặt khác, "ngón bài" quen thuộc của các nước OPEC (cắt giảm sản lượng để tăng giá dầu) cũng tỏ ra không có hiệu lực trong tình hình khủng hoảng hiện nay. Trước đây, mỗi khi các nước OPEC nhóm họp là các nhà đầu tư phố Wall cứ phải chăm chú theo dõi để kịp đưa ra các lệnh mua/bán kiếm lời. Hôm nay, OPEC có họp xong rồi cũng chẳng ai thèm để ý. Hai lần cắt giảm sản lượng khai thác nhưng giá dầu cứ vẫn đi xuống đều đều. Dự tính, ngoài OPEC sẽ có sự tham gia cả của Nga về việc cắt giảm sản lượng, nhưng chẳng có ai dám hy vọng giá dầu sẽ chững lại.
Về mặt khách quan, giá dầu trên thế giới rất nhạy cảm và phụ thuộc vào tình hình chính trị nhiều hơn là phụ thuộc vào mối quan hệ cung -cầu. Trong thời gian tới, giá dầu sẽ rất phụ thuộc vào chính sách của chính quyền mới của Mỹ về Trung Đông.
Khoáng sản của VIỆT NAM trong khủng hoảng toàn cầu
![]() |
| Giá "hoà vốn" của một tấn kim loại kẽm thỏi của Công ty kim loại màu Thái Nguyên (một đơn vị thuộc Tcty Khoáng sản của TKV) khoảng 1500USD/tấn, nhưng hiện nay, hàng nghìn công nhân của công ty này đang cầu mong bán được thành quả lao động của mình với giá chỉ có 1100USD/tấn để được lĩnh lương trước khi nghỉ ăn tết, còn giám đốc của công ty đang hy vọng rất vô tư vào "gói cứu trợ 6 tỷ USD" của Chính phủ để duy trì được công ăn việc làm cho công nhân trước khi về nghỉ hưu và để lò nấu kẽm lạc hậu sẽ không bị phá hủy. |
Đối với các khoáng sản thuộc loại "quý" và "hiếm" khác "made in Vietnam" trong thời gian cuối năm 2008 cũng tương tự. Giá kim loại đồng thỏi "ba con chín" của Việt Nam đã rớt một cách thảm hại từ trên 8.400USD/tấn xuống còn hơn 2.900USD/tấn, giá thiếc thỏi rớt từ 25.000USD/tấn xuống còn trên 11.000USD/tấn, giá kẽm thỏi rớt từ 4500USD/tấn xuống còn 1.100USD/tấn, giá gang đúc rớt từ 12,5 tr.đ/tấn xuống còn 7,5 tr.đ/tấn v.v. mà các đối tác nhập khẩu truyền thống từ Trung Quốc cứ "ngoảnh mặt làm ngơ". Mới chỉ năm 2007 và nửa đầu năm 2008, cứ mỗi sáng thức dậy là Giám đốc Tổng công ty Khoáng sản của tập đoàn TKV đã có thêm gần 2 tỷ VNĐ lãi "nhảy" vào tài khoản. Còn đến cuối năm 2008, và đầu năm 2009 chính ông Giám đốc của Tổng công ty Khoáng sản này trước khi ký Hợp đồng phối hợp kinh doanh với Tập đoàn, đã tình nguyện đề xuất đưa tất cả các sản phẩm khoáng sản (vàng, đồng, kẽm, thiếc, gang đúc, quặng sắt v.v.) của tổng công ty này vào "xếp hàng" để chờ trợ cấp của Tập đoàn có nguồn thu lãi duy nhất từ hòn than anthracite xuất khẩu của Quảng Ninh (cũng đang "sống dở chết dở"). Nhập khẩu những công nghệ luyện đồng, luyện kẽm lạc hậu khoảng 50 năm, sản xuất ra các sản phẩm chỉ có thể bán lại cho các đối tác Trung Quốc để làm nguyên liệu, đầu năm nay Tổng công ty Khoáng sản này của TKV đang tồn kho sản phẩm trị giá hơn 800 tỷ đồng (gần bằng 50% doanh thu).
Thay cho lời kết
Loài người đã bước sang thế kỷ 21 được gần chục năm. Thế giới đang ngày một phẳng và ngày một nhỏ lại. Cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra gần 300 năm nay sẽ lùi vào quá khứ để nhường chỗ cho cuộc cách mạng về khoa học công nghệ. Nền công nghiệp ống khói đang được thay thế bằng nền công nghiệp văn phòng. Việt Nam đã gia nhập một cách thành công vào WTO. Nền kinh tế của Việt Nam đã có hệ số mở lớn hơn 1, nhưng vẫn tụt hậu hàng trăm năm so với những nước mà chỉ cách đây vài chục năm còn thua kém Việt Nam. Có dân số và mật độ dân số thuộc loại lớn trên thế giới, nhưng Việt Nam chỉ có nguồn tài nguyên khoáng sản rất manh mún và một môi trường sống (đất, nước, và không khí) đang ngày càng bị hủy hoại nhanh chóng. Nền kinh tế của Việt Nam đang trên đà phát triển nhanh, nhưng với một cấu trúc hết sức mỏng manh. Chúng ta có tham vọng rất lớn, có nhu cầu phát triển rất cao, nhưng có tầm nhìn và khả năng dự báo hết sức hạn chế v.v. Tất cả những vấn đề đó đang đặt ra cho chúng ta một sự lựa chọn rất rõ ràng là phải phát triển một nền kinh tế bền vững, trong sạch và hiệu suất cao. Đó chính là nền kinh tế dựa vào tri thức. Tài sản vô tận của quốc gia là trí thức, còn khoáng sản chỉ là tài sản có hạn, không thể tiếp tục tư duy về phát triển kinh tế theo định hướng dựa vào tài nguyên khoáng sản.
-----------------
* Giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng-TKV




