Trong số các công trình như vậy, "La Rivière Noire: L'intégration d'une marche frontière au Vietnam" là một nghiên cứu tiêu biểu.
Được xuất bản vào năm 2014, và mới đây được chuyển ngữ sang tiếng Việt với tựa đề Sông Đà: Lịch sử một vùng biên cảnh Việt Nam, nghiên cứu của Philippe Le Failler đã phân tích chi tiết quá trình chuyển đổi của lưu vực sông Đà từ một vùng biên viễn với tính tự trị cao dần trở thành một bộ phận không thể tách rời của nước Việt Nam hiện đại, thống nhất và toàn vẹn.
Thông qua hơn 600 trang sách nghiên cứu công phu, Le Failler đã phác họa một bức tranh toàn cảnh về sự biến đổi lịch sử của vùng Tây Bắc Việt Nam trong khoảng một thế kỷ, từ giữa thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX. Đây không chỉ đơn thuần là một công trình sử học mà còn là một nghiên cứu liên ngành, kết hợp các phương pháp tiếp cận từ nhân học, địa lý học và chính trị học để làm sáng tỏ một quá trình lịch sử phức tạp và đa chiều.
Philippe Le Failler sinh năm 1963 tại Briançon, Pháp; là một trong những chuyên gia hàng đầu về lịch sử Việt Nam của giới học thuật Pháp đương đại, đã có 16 năm công tác và sinh sống tại Hà Nội (1996-2012). Giai đoạn này giúp ông thành thạo tiếng Việt, đồng thời tạo điều kiện để ông tiếp cận sâu rộng với các nguồn sử liệu Việt Nam và xây dựng mạng lưới quan hệ học thuật với các nhà nghiên cứu Việt Nam. Sự am hiểu sâu sắc về văn hóa và xã hội Việt Nam đã trở thành một lợi thế quan trọng trong nghiên cứu của ông về lịch sử vùng biên cương nước ta.
Công trình Sông Đà của Le Failler đại diện cho việc đánh giá lại mối quan hệ giữa trung tâm-biên cảnh, nội vùng-ngoại vi trong lịch sử Việt Nam - vốn thường được nhìn nhận theo quan điểm chính thống và quan phương là toàn bộ, toàn diện, thống nhất cũng như luôn được trung ương kiểm soát chặt chẽ. Đây là một khuynh hướng nghiên cứu đã được khơi gợi và phát triển cả trong nước và quốc tế từ những năm đầu 2000. Với Le Failler, ông đưa ra lập luận rằng quá trình hội nhập vùng lưu vực Sông Đà – bao gồm các tỉnh Tây Bắc Việt Nam hiện nay, trong sách tập trung chủ yếu vào khu vực Sơn La, Lai Châu, Điện Biên - vào không gian lãnh thổ quốc gia-dân tộc Việt Nam chỉ được diễn ra qua ba giai đoạn chính trong khoảng hơn một thế kỷ. Giai đoạn đầu là sự duy trì quyền tự trị có kiểm soát dưới chính quyền thuộc địa Pháp (1890-1954), tiếp theo là việc tổ chức thành khu tự trị dưới chính quyền Việt Nam độc lập (1954-1956), và cuối cùng là sự hội nhập hoàn toàn vào hệ thống hành chính quốc gia hiện đại (1956-2007). Ông cũng khẳng định quá trình này không phải là một quá trình tất yếu hay đơn tuyến, mà là kết quả của những tương tác phức tạp giữa quyền lực trung ương và tự trị địa phương, giữa các nhóm dân tộc khác nhau, và giữa những lực lượng chính trị đối lập. Hơn hết, Le Failler còn nhấn mạnh việc tích hợp vùng biên viễn đòi hỏi sự can thiệp tích cực của nhà nước để vượt qua những rào cản về địa lý, sắc tộc và chính trị.
![]() |
Nghiên cứu của Le Failler đã thách thức các quan điểm dân tộc chủ nghĩa về phát triển quốc gia. Ảnh minh họa: Omega+ |
Sông Đà được kết cấu thành 12 chương, mỗi chương tập trung vào một giai đoạn hoặc khía cạnh cụ thể của quá trình hội nhập lãnh thổ. Trước tiên, Le Failler thiết lập nền tảng địa lý và nhân khẩu học cho nghiên cứu. Ông phân tích vai trò của Sông Đà như một ranh giới tự nhiên đồng thời là tuyến đường giao thông quan trọng, và mô tả bức tranh phức tạp về thành phần dân tộc trong khu vực với sự hiện diện của người Thái, người H’mông và các dân tộc miền núi khác. Sau đó, Sông Đà xem xét những cách thức mà thực dân Pháp tiến hành nhằm bắt đầu phá vỡ các cấu trúc chính trị truyền thống, dẫn đến sự sụp đổ của các thủ lĩnh địa phương người Thái cũng như sự xuất hiện các hình thức kháng cự và thỏa hiệp giữa chính quyền thực dân và thủ lĩnh địa phương. Trong quá trình đó, nhiều thủ đoạn chính trị và vũ lực quân sự đã được áp dụng nhằm kiểm soát các tầng lớp tinh hoa truyền thống như gia tộc Đèo ở Lai Châu. Để rồi, cuốn sách phân tích các các giai đoạn cuối cùng của quá trình hội nhập, từ việc giảm thiểu tính đặc thù khu vực (xóa bỏ các chế độ tù trưởng, thổ ty; cử phái viên dưới đồng bằng lên bắt đầu hình thức trực trị,...) trong thời kỳ thuộc địa đến sự sáp nhập hoàn toàn khu tự trị vào hệ thống hành chính quốc gia Việt Nam hiện đại.
Ba luận điểm sau đây được phát triển xuyên suốt nghiên cứu:
(1) Sự suy giảm các cấu trúc quyền lực của những thủ lĩnh người Thái truyền thống. Tác giả phân tích chi tiết cách thức mà chính quyền thuộc địa Pháp tiến hành nhằm phá hoại có hệ thống quyền lực và ảnh hưởng của các thủ lĩnh người Thái, trong khi vừa tạo ra những hình thức hợp tác cai trị mới. Quá trình này không diễn ra suôn sẻ hay triệt để, thay vào đó, như trường hợp của gia tộc họ Đèo cho thấy, họ vẫn duy trì được mức độ tự trị đáng kể ngay cả dưới danh nghĩa phục vụ chính quyền thuộc địa.
(2) Vấn đề liên dân tộc. Le Failler cung cấp phân tích tinh tế về cách các chính sách thuộc địa ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các nhóm dân tộc khác nhau. Ông chỉ ra cách chính quyền Pháp cố gắng quản lý sự đa dạng dân tộc thông qua chiến lược chia để trị, đồng thời cũng ghi nhận những trường hợp hợp tác và kháng cự liên dân tộc.
(3) Sự chuyển đổi kinh tế của khu vực. Công trình mô tả, làm rõ và phân tích sự phát triển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang hội nhập vào hệ thống kinh tế thuộc địa và sau đó là quốc gia dân tộc. Việc "thuần hóa" Sông Đà thông qua xây dựng đập thủy điện (bắt đầu vào năm 1979) trở thành một ẩn dụ mạnh mẽ cho quá trình kiểm soát nhà nước đối với không gian tự trị trước đây.
Nếu như cuốn sách đặt trọng tâm nghiên cứu tiến trình tích hợp không gian sông Đà trở thành một lãnh thổ không thể tách rời của nhà nước Việt Nam đương đại, thì đối tượng nghiên cứu không thể bỏ qua của tác giả chính là gia tộc họ Đèo ở Lai Châu - mà quan trọng nhất là nhân vật Đèo Văn Trì (1849-1908), người thuộc hàng ngũ các thủ lĩnh địa phương và chúa mường tự trị tại không gian biên viễn giữa Việt Nam, Trung Hoa và Lào. Chính khái niệm marche frontière (biên viễn) mà Le Failler phát triển đã cho thấy những mâu thuẫn trong con người này như chính tính phức tạp của không gian kia. Trong suốt cuộc đời của mình, Đèo Văn Trì đã thường xuyên thay đổi lòng trung thành với nhiều tôn chủ khác nhau, phục vụ các đại diện trung thành với cả chính thể Đại Nam lẫn thực dân Pháp. Không chỉ vậy, ông còn đóng vai trò như một nhà nước thực tế tại khu vực mình kiểm soát, từ việc khống chế giao thương, thu thuế, trị an cho đến cả các cuộc đột kích và chinh phạt sang các tiểu quốc láng giềng tại Lào. Có thể nói, Đèo Văn Trì là đại diện giúp làm sáng tỏ cách các chính thể truyền thống tại Đông Nam Á quản lý sự đa dạng về lãnh thổ và dân tộc thông qua các hình thức kiểm soát linh hoạt hơn là áp đặt trực tiếp (trừ một số trường hợp đặc biệt, các quan lại dưới xuôi thường chỉ hiện diện tại thủ phủ các tỉnh hơn là nắm quyền trực tiếp các bản, mường). Và ngay cả thực dân Pháp cũng phải chấp thuận thực tế đó, phá hoại quyền lực truyền thống nhưng vẫn phải đi kèm ban phát quyền lợi - một nguyên tắc chính trị thường được các triều đại Việt Nam áp dụng với chế độ thủ lĩnh miền núi, có ăn năn tức là có tha thứ, có tha thứ tức là có ân huệ. Cụ thể, các triều đại dưới đồng bằng thường ban phát quan tước, bổng lộc và quyền độc quyền bán muối hoặc khai mỏ cho các thổ ty, thủ lĩnh địa phương vùng cao.
Từ chính trường hợp Đèo Văn Trì và gia tộc của ông, mở rộng ra là các thủ lĩnh người Thái và không gian sông Đà, Le Failler đã phác dựng quá trình tích hợp phân cấp (graduated integration) – một tiến trình không tuyến tính đơn thuần, mà là chuỗi các thỏa hiệp, kháng cự và điều chỉnh phức tạp mà kết quả là các biên cảnh vẫn duy trì nhiều đặc điểm riêng biệt ngay cả khi bị hấp thụ vào các hệ thống chính trị lớn hơn.
Nghiên cứu của Le Failler đã thách thức các quan điểm dân tộc chủ nghĩa về phát triển quốc gia. Ông lập luận rằng việc tích hợp vùng biên cảnh vào hệ thống quản lý trực tiếp của nhà nước là một quá trình phức tạp và dần dần, thay vì là một kết quả tất yếu dưới góc nhìn của các sử gia dân tộc chủ nghĩa truyền thống - khi mà quan điểm thống nhất, toàn vẹn và tính tất yếu luôn được nhấn mạnh và cách tiếp cận lấy người Việt/Kinh làm trung tâm vốn chi phối phần lớn các nghiên cứu lịch sử Việt Nam. Le Failler chỉ ra thực tế tiến trình hình thành nhà nước quốc gia-dân tộc đòi hỏi các thỏa hiệp, thương lượng liên tục với các dân tộc thiểu số và không thể đạt được thông qua áp đặt hành chính hay sức ép quân sự đơn thuần. Điều này đã được chứng minh trong lịch sử, với các chế độ kimi, thổ ty và ân phong của triều đại Đại Việt, Đại Nam cho các thủ lĩnh vùng biên giới "mềm" hay dao động này.
Có thể nói, Sông Đà của Philippe Le Failler đại diện cho một thành tựu mang tính bước ngoặt trong nghiên cứu lịch sử các khu vực biên cương Việt Nam. Thông qua nghiên cứu lưu trữ tỉ mỉ, phân tích lý thuyết tinh vi và cách tiếp cận liên ngành, Le Failler đã đóng góp một công trình vượt xa trường hợp cụ thể của vùng Sông Đà để đưa ra những hiểu biết quan trọng về sự hình thành nhà nước, đoàn kết và thống nhất dân tộc cũng như di sản thuộc địa ở Đông Nam Á.
Tầm quan trọng của công trình không chỉ ở việc phác dựng lại chi tiết lịch sử mà còn ở đóng góp lý thuyết để hiểu những phương thức mà các chính thể Đông Nam Á điều hướng quá trình chuyển đổi từ cai trị truyền thống sang hành chính hiện đại. Khái niệm "biên viễn" và khuôn khổ "tích hợp phân cấp" của Le Failler cung cấp những lý thuyết phân tích có giá trị phương pháp luận và lý thuyết luận cho các học giả nghiên cứu các quá trình tương tự ở nhiều trường hợp khác. Chắc chắn, công trình này sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến những nghiên cứu về lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử Tây Bắc nói riêng.
Bài đăng KH&PT số 13523 (số 29/2025)
Mộc Công
