Trong lịch sử của mỗi quốc gia-dân tộc luôn có những giai đoạn quan trọng hơn so với những năm tháng khác. Với lịch sử Việt Nam, đầu thế kỷ XIX là một trong những giai đoạn như vậy. Giai đoạn này có ý nghĩa to lớn trong việc góp phần tạo nên hình hài, bản sắc và số phận của nước Việt Nam hiện đại.
Bằng công trình "Nhà nước và quyền lực chính trị ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX" (NXB Đại học Sư phạm, 2026), Vũ Đức Liêm đã trả lời những câu hỏi như: Các cấu trúc chính trị và hành chính thời kỳ này đã vận hành ra sao; Việt Nam giai đoạn đó phải đương đầu với những thách thức sống còn nào cả từ bên trong lẫn bên ngoài; thực chất của cạnh tranh phe phái, xung đột địa chính trị và các cuộc nổi dậy của dân chúng giai đoạn này là gì?... để kể lại "theo một cách khác" về hành trình tiền nhân kiến tạo các nền tảng của/cho một quốc gia hiện đại từ hai trăm năm trước.
Phiên bản khác của câu chuyện quyền lực
Một trong những khó khăn khi nghiên cứu lịch sử là thiếu thốn tư liệu, nhưng điều này hiếm xảy ra trong các công trình viết về nhà Nguyễn. Những người nghiên cứu về lịch sử giai đoạn 1802 – 1945, nếu thực sự "biết điều", có khi còn phải "than vãn" theo chiều ngược lại: tư liệu quá bề bộn, dẫu đã mất mát nhiều. Một quá khứ có độ tích tụ tư liệu cao như vậy, là thuận lợi và cũng là một thách thức. Trước thách thức đó, Vũ Đức Liêm xác nhận rằng: "Với độc giả quan tâm đến lịch sử vương triều Nguyễn (1802 – 1945), những chi tiết và sử liệu trình bày trong cuốn sách này, phần đa không mới". Tuy nhiên, tác giả hy vọng "cách kể câu chuyện về quyền lực chính trị ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX", phần nào đó, "không phải là những phiên bản cũ".
Đại nội Huế - nơi ở, làm việc và tổ chức triều chính của các vua nhà Nguyễn (1802–1945). Ảnh: VnExpress
Nghiên cứu về quá khứ, công trình của Vũ Đức Liêm chịu ảnh hưởng của các trường phái sử học phương Tây, có hành văn đăng đối, nhịp nhàng kiểu biền văn, và hài hước.
Giữa áp lực của tư liệu bề bộn, đa dạng và thiên kiến tích lũy suốt mấy chục năm qua trong đời sống học thuật, công trình đã đi vào khảo sát, phân tích những vấn đề như: sự vận hành của nhà nước Việt Nam đầu thế kỷ XIX; những động lực, cơ sở, xung đột và cơ chế, thiết chế tham gia vào quá trình kiến tạo và định hình sự chuyển biến của quyền lực chính trị, hành chính đó; và vai trò của tư duy chính trị của những nhà lãnh đạo như Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị đối với sự thành bại của các dự án chính trị trong quá trình đó...
Tác giả "tập trung phân tích cách thức mà quyền lực được thảo luận, thương thỏa, thể chế hóa và thực thi trong thực tiễn". Khi quan niệm về "cách kể mới", công trình đã tiến gần tới một trong những công thức kinh điển nhưng mang lại sức hấp dẫn cho sử học: sử gắn liền với truyện. Điều đó có hiệu quả không kém những tiếp cận hệ thống, những phân tích chặt chẽ hay góc chiếu liên ngành, tạo ra sự sinh động cho công trình.
Trong "Nhà nước và quyền lực chính trị ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX", tác giả đã cho người đọc thấy một nhà Nguyễn, một triều Nguyễn phải "nỗ lực phi thường kết nối toàn bộ lãnh thổ mới [...] thành một thể thống nhất", một việc làm "chưa có tiền lệ" dẫu gặp không ít khó khăn trên hành trình "khởi nghiệp" dù đó là vị vua khai cơ (Gia Long) hay người kế vị (Minh Mệnh).
Làm "chủ hộ" một cương vực rộng lớn chưa từng có trong lịch sử quốc gia, lên ngôi và thiết lập vương triều trong bối cảnh lòng (một số) người vẫn còn hoài niệm nhà Lê, nhà Nguyễn cực nhạy cảm với vấn đề chính danh đồng thời cũng phải đối diện với một xã hội nhiều "loạn", "giặc" hơn bao giờ hết. Những "loạn", những "giặc" đó đến từ mâu thuẫn phe phái, điều mà công trình đã chỉ ra: Sử quan chỉ nhìn đó là mâu thuẫn cá nhân hơn là coi câu chuyện bè phái như một "lỗi hệ thống".
Một trong những điều mà Minh Mệnh làm được để hạn chế vấn nạn này, và có vẻ ông đã đúng, đó là tạo ra sự cạnh tranh giữa võ tướng với đám văn nhân, "nho tướng". Đội ngũ trí thức được đào luyện ở cửa Khổng sân Trình, nhận ân trạch, được ban áo mũ sẽ hiểu lễ nghĩa, trung thành hơn đám hạ thần xuất thân thuần túy võ biền. Trong triều đình "tân tạo" đó, những nhân vật như Nguyễn Công Trứ trở thành những cánh tay nối dài của Minh Mệnh.
Qua mối quan hệ Minh Mệnh – Nguyễn Công Trứ, Vũ Đức Liêm để lịch sử "kể câu chuyện làm thế nào để trở thành một nhà chính trị ở Việt Nam dưới thời Minh Mệnh" (ngoài yếu tố tiên quyết: bố là hoàng đế) và "người cai trị ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX đã sử dụng những quan chức dưới quyền như thế nào cho dự án chính trị của mình". Công trình cũng góp phần lý giải tại sao xuất hiện các viên chức quyền lực bao trùm - như Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, Vũ Xuân Cẩn, Nguyễn Tri Phương thời Thiệu Trị, Tự Đức - trong khi những người khác - như Nguyễn Công Trứ, Phan Huy Chú...- lại bị đẩy ra ngoại vi của quyền lực.
Tránh né những "lịch sử vấn đề" đôi khi dài dòng, hoặc đụng chạm, mang tính trường quy nhưng công trình của Vũ Đức Liêm vẫn thường xuyên "ngửa bài" với người đọc ("các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào..."; "các học giả Việt Nam chưa quan tâm đúng mức đến..."...) để khẳng định hướng đi của mình, đồng thời đề xuất khái niệm làm việc (như khái niệm "nền hành chính châu bản").
Tác giả cho biết những trang viết này "được hình thành từ những khảo cứu và chiêm nghiệm lâu dài, nơi các ý tưởng, những sự diễn dịch thường xuyên bị thách thức hay làm mới".
Những khía cạnh ít được biết về làng xã
Những cật vấn, phản tư như vậy cũng xuất hiện trong khắp các trang viết, như khi công trình tập trung vào câu chuyện làng xã và bạo lực xã hội ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX.
Tán thành quan điểm của Nguyễn Công Trứ về cái hại của cường hào, thổ hào, công trình trình bày nhận thức về bạo lực xã hội ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX, mối quan hệ giữa cường hào, thổ hào với vấn đề quân sự hóa (hay bạo lực hóa) xã hội (chủ yếu là nông thôn) Việt Nam đầu thế kỷ XIX, nguồn gốc của vũ khí, các cuộc nổi dậy của làng xã và sự suy yếu của quyền lực nhà nước...
Tác giả nhấn mạnh tính chất "nổi loạn" của thế giới nông thôn và nhận diện làng xã như là một nguồn gốc lớn của bạo lực, đồng thời đặt nó trong bối cảnh rộng lớn hơn, nơi câu chuyện về Việt Nam thế kỷ XIX được coi như một phần của mô thức bạo lực toàn cầu thời sơ kỳ hiện đại.
Cuốn sách mới của TS Vũ Đức Liêm, có nhiều bài viết được xuất bản trên Tia Sáng trong nhiều năm. Ảnh: Nxb Đại học Sư phạm.
Lật lại niềm tin đầy màu sắc "Tự lực văn đoàn" của "một số nhà sử học trước đây" - coi làng xã là thành trì cuối cùng của văn hóa, bản sắc và không bị những thứ ngoại lai, lai căng làm pha tạp, là pháo đài chống giặc ngoại xâm, là nơi hội tụ những giá trị tốt đẹp nhất của người Việt... - Vũ Đức Liêm cho rằng "hành xử của làng xã không phải lúc nào cũng ôn hòa và kiến tạo".
Công trình cũng "vạch trần" một sự thật: Triều đình ưa thích, và có lẽ không có phương án nào khả dĩ hơn, việc tuyển mộ "giặc quy thuận" làm binh lính và phái họ sang các khu vực khác (bứng họ khỏi quê hương bản quán như một cách lưu đày trá hình) nhưng thực tế thì phần đông trong số đó sẽ tìm cách đào ngũ và "xuất khẩu" mầm mống bạo lực đi khắp nơi.
Có thể coi đây là một trong những phần "đinh" của công trình khi nó phải đi một con đường khác so với "một khối lượng lớn các công trình học thuật" trước kia (hầu hết là ở phương Tây), vốn chỉ "tập trung vào sự suy thoái của chế độ và bộ máy quan liêu, sự tham nhũng của quan lại, sự gia tăng quá nhanh của dân số và sự hội nhập kinh tế mạnh mẽ của các xã hội Đông Á vào cấu trúc chung của khu vực", để "tập trung phản ánh sự xói mòn mất quyền lực nhà nước ở làng xã" và "đính chính" niềm tin lãng mạn mà chúng ta vừa nhắc tới.
Bản sắc chính trị tại các không gian biên cương
Ở phần sau, công trình đi vào phân tích những đề tài như "Bưu chính và sự vận hành của quyền lực chính trị ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX", "Quản trị lãnh thổ ở lưu vực sông Mekong thời Minh Mệnh", "Quản trị lãnh thổ Việt Nam ở hạ lưu sông Mekong nửa đầu thế kỷ XIX".
Bên cạnh đó là câu chuyện về sự dịch chuyển dân cư theo hạ tầng nhà nước ở lưu vực sông Mekong. Tác giả chủ động "nhìn thời kỳ Rama III và Minh Mệnh trong ngữ cảnh chuyển tiếp, thay vì chỉ đóng khung vào mô hình truyền thống" để "làm phong phú thêm hiểu biết học thuật về quá trình biến đổi của khu vực Đông Nam Á lục địa từ "tiền hiện đại" sang "hiện đại" – một quá trình vốn bị bỏ quên hoặc không thể được trình bày đầy đủ trong nghiên cứu về Xiêm hay Đại Nam bởi sự thống trị của các nhãn quan và khuôn khổ lý thuyết truyền thống" hoặc "góc nhìn cũ".
Từ đó, công trình cho thấy, với các bản đồ được đo vẽ vào giai đoạn này, "lần đầu tiên người Việt có một hình dung hệ thống về khu vực địa lý dọc theo bán đảo Đông Dương và hơn nữa, là tư duy về sự tương tác và hội nhập của họ trong không gian đó" dẫu chưa tới tầm châu lục hay thế giới, trong khi họa thực dân đã cận kề.
Việc quản trị lãnh thổ Việt Nam ở hạ lưu sông Mekong nửa đầu thế kỷ XIX cũng gợi lên những câu chuyện thú vị về "Văn minh và man di" hay những thách thức trong quá trình "Tây tiến", "Cuộc thương thảo của các thực hành quản trị không gian" và đọng lại ở "Vẽ bản đồ Việt tính"... Điều đó chứng tỏ Việt Nam – Đại Nam khi ấy, sau tất cả những giằng kéo của các vector nội cấu trúc như: tộc người, vùng miền, tôn giáo – tín ngưỡng và bản sắc, còn phải tham gia - bất đắc dĩ hoặc tự nguyện, hay chủ động - vào những tương tác mang tầm khu vực trong cả cạnh tranh chính trị và quân sự. Cho tới trước khi thực dân xuất hiện, hiếm có giai đoạn nào chứng kiến những thay đổi lớn lao và kỳ vĩ đến thế trong lịch sử dân tộc.
Cách thức mà nhà Nguyễn và những ông vua triều Nguyễn đầu thế kỷ XIX "đăng bạ", quản trị lãnh thổ hình chữ S có rất nhiều ý nghĩa và giá trị trong hành trình đi tới hiện đại của nước Việt Nam. Công trình của Vũ Đức Liêm giống các công trình đi trước ở chỗ cho thấy cách thức mà tiền nhân Nam tiến nhưng có điểm khác là mở rộng bằng cách "soi rọi vào quá trình định hình cấu trúc lãnh thổ và bản sắc chính trị của nước Việt Nam hiện đại tại các không gian biên cương" trong bối cảnh mà quan niệm phân chia thế giới thành Hoa – Di vẫn còn thống trị. Đây là một điểm quan trọng trong lịch sử giai đoạn này bởi đến khi nước ta mất vào tay thực dân Pháp, quan niệm đó vẫn chưa có nhiều thay đổi.
Áp lực của người viết sử về nhà Nguyễn
Nghiên cứu về nhà Nguyễn, các sử gia phải chịu khá nhiều áp lực: con cháu "hoàng tộc" vẫn còn, những nhận thức được lan tỏa một thời vẫn còn, và còn nhiều hơn là những người thường nhìn lịch sử bằng cảm xúc cá nhân hơn là lý trí. Những "vết thương" ngoại lai hoặc tự tạo vẫn còn trên "cơ thể nhận thức" của cá nhân cũng như của một số (nhóm) người. Trong vai một "người thợ săn" (nhà nghiên cứu), tác giả đã ngồi xuống để cho "con sư tử" (lịch sử) có thể tự kể câu chuyện của nó.
Vũ Đức Liêm trao đổi với các giáo sư từ École normale supérieure (Paris) và École normale supérieure de Lyon.
Vũ Đức Liêm khá tâm đắc với một diễn đạt của Paul A. Cohen: "Nhiệm vụ của sử gia là phải ngược dòng để bước vào cái tháp Babel hỗn độn của các sự kiện ấy, lựa chọn ra những sự kiện quan trọng và tìm hiểu xem chúng thực sự nói gì".
Trèo lên ngọn tháp Babel ấy là công việc không hề đơn giản. Bằng công trình này, Vũ Đức Liêm đã từng bước chinh phục những tầng tháp ồn ào và "đa ngữ" đó để kể những câu chuyện về sự ra đời của nước Việt Nam hiện đại, đồng thời giúp người đọc thấy rằng những vấn đề của Việt Nam đầu thế kỷ XIX không chỉ là chuyện của đương thời mà rất nhiều trong số đó đã góp phần định hình xã hội, bản sắc và tương lai của dân tộc sau này, cũng như cho tới ngày nay.