Năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ đối mặt với một thực tế nghiệt ngã: từ 80 đến 95% dân số mù chữ. Trong bối cảnh đó, phong trào Bình dân học vụ ra đời, mở đầu bằng Sắc lệnh số 20/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quy định mọi người dân từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết trong vòng một năm.
Phong trào này nhằm giải quyết "giặc dốt" - một trong các vấn đề cấp bách nhất của Việt Nam lúc bấy giờ, chỉ sau "giặc đói".
Các lớp Bình dân học vụ được tổ chức rộng rãi ở đình làng, nhà dân, chùa chiền v.v. Giáo viên đứng lớp chủ yếu là tình nguyện viên. Ngoại trừ một số nơi có trường học và bàn ghế, phần lớn lớp học thời đó đều rất đơn sơ. Dụng cụ học tập cũng được tận dụng từ đồ dùng sinh hoạt hằng ngày. Nhiều nơi dùng chõng tre làm bàn, bảng viết có khi chỉ là bức tường, cánh cửa hay tấm phản dựng lên. Phấn được làm từ gạch non, than củi hoặc đất sét; bút là thân tre nứa được vót nhọn, còn mực thì lấy từ bất cứ loại hoa hay cây nào có thể cho ra màu. Mỗi buổi học kéo dài 1-2 giờ, đa số người học là phụ nữ – nhóm dân số trước đó gần như không được đi học.
![]() |
Một lớp Bình dân học vụ hồi năm 1945. Đa số người học là phụ nữ – nhóm dân số trước đó gần như không được đi học. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam |
Nhưng liệu một phong trào giáo dục đại chúng, giản dị và tiết kiệm như vậy có thể đem đến tác động lâu dài? Và nếu có, tác động đó có lan truyền sang thế hệ sau không?
Câu hỏi này đã được TS. Hoàng Xuân Trung (Trường Đại học Thương mại) và TS. Nguyễn Minh Hà (Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF) giải đáp trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí Economics of Education Review.
Kết quả cho thấy câu trả lời là CÓ, và tác động đó không chỉ dừng lại ở một thế hệ. Những người từng tham gia các lớp Bình dân học vụ không chỉ đạt trình độ học vấn cao hơn, mà con cái họ - gần 50 năm sau - cũng học cao hơn và lớn lên trong gia đình coi trọng giáo dục hơn hẳn so với các nhóm khác.
Hai nhà nghiên cứu đã thu thập dữ liệu về các bé gái trong độ tuổi tiểu học (6–11 tuổi, sinh ra trong khoảng năm 1934-1939) sống ở các tỉnh như Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh - các tỉnh do chính quyền Việt Nam kiểm soát, nên đã triển khai chương trình Bình dân học vụ từ năm 1945-1946. Nhờ vậy, các bé gái ở đây có cơ hội học chữ từ sớm, khác với những bé gái cùng tuổi sống ở vùng do Pháp kiểm soát, được tiếp cận chương trình Bình dân học vụ muộn hơn, từ năm 1954-1958, sau khi kháng chiến chống Pháp thành công.
Trong khảo sát dân số năm 1998, những bé gái này đã trở thành mẹ, thành bà, do đó dữ liệu họ cung cấp cho phép so sánh chi tiết giữa hai nhóm.
Cụ thể, kết hợp dữ liệu điều tra Mức sống dân cư Việt Nam năm 1998 với tư liệu lịch sử để xác định thời điểm từng tỉnh được chính quyền kháng chiến kiểm soát, nhóm tác giả đã xác định mỗi người có bao nhiêu năm tiếp xúc với chương trình Bình dân học vụ vào đúng độ tuổi tiểu học.
Bằng phương pháp "chênh lệch kép", các tác giả đã khớp dữ liệu giữa các nhóm sinh trước, trong và sau chiến tranh, ở những tỉnh có và không có phong trào Bình dân học vụ. Nghiên cứu cũng loại trừ người di cư trước năm 15 tuổi, đồng thời tiến hành nhiều kiểm định bổ sung để đảm bảo độ tin cậy.
![]() |
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm một lớp xóa mù chữ ở khu vực Lương Yên, Hà Nội, vào tháng 5/1956. Ảnh: TTXVN |
Kết quả chỉ ra, trung bình những bé gái từng tham gia phong trào Bình dân học vụ có thời gian học tập lâu hơn 1,5 năm so với nhóm đối chứng. Tỷ lệ biết đọc, làm toán, hoàn thành tiểu học và trung học đều cao hơn rõ rệt (từ 19-26 điểm phần trăm).
Đặc biệt, con cái của họ cũng đi học nhiều hơn trung bình 0,9 năm, và có xác suất tốt nghiệp cấp 3 cao hơn 15% so với con cái của các bà mẹ trong nhóm đối chứng.
Tính ra, mỗi năm học tăng thêm của người mẹ tương ứng với 0,6–0,65 năm học tăng thêm của con – mức ảnh hưởng lớn hơn nhiều các nghiên cứu tương tự ở các nước phát triển.
Hiệu ứng này chỉ rõ nét ở phụ nữ, vì trẻ em trai thời đó vốn đã có tỷ lệ đi học cao hơn nên tác động của phong trào Bình dân học vụ không rõ ràng bằng.
Một câu hỏi đặt ra, "nếu những người mẹ này học nhiều hơn, liệu gia đình họ có giàu hơn?" Dữ liệu cho biết, không có khác biệt rõ rệt về thu nhập, nghề nghiệp, hay mức độ tham gia vào thị trường lao động chính thức giữa hai nhóm. Như vậy, trình độ học vấn của người mẹ không trực tiếp dẫn đến thu nhập cao hơn.
Một phần lý do của việc này là vì trong và sau thời kỳ "bao cấp", khoảng những năm 1970-1990, việc phân bổ lao động ở Việt Nam vẫn còn nặng về theo kế hoạch hóa tập trung. Vì thế, những bà mẹ từng tham gia Bình dân học vụ, dù có trình độ cao hơn, cũng ít có cơ hội cải thiện vị thế hay thu nhập trên thị trường lao động.
Tuy nhiên, sự khác biệt lại nằm ở cách sử dụng nguồn lực trong gia đình. Dù không có khác biệt về số con giữa hai nhóm, các hộ gia đình có mẹ từng theo Bình dân học vụ chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục, và sống trong điều kiện tốt hơn (nền nhà lát gạch hoặc xi-măng, diện tích rộng hơn), và chi ít hơn đáng kể cho thuốc lá. Cụ thể, chi phí giáo dục trung bình cho mỗi trẻ từ 6 đến 18 tuổi cao hơn 37%, còn chi tiêu cho thuốc lá giảm tới 71%.
Một kết quả thú vị khác là chồng của những phụ nữ từng theo Bình dân học vụ cũng có xu hướng hút thuốc ít hơn. Dù không trực tiếp tham gia các lớp Bình dân học vụ, đời sống gia đình, thói quen tiêu dùng và ưu tiên chi tiêu của những người đàn ông này dường như đã thay đổi – có thể nhờ ảnh hưởng tích cực từ người vợ có học vấn cao hơn.
Câu chuyện Bình dân học vụ có thể đã lui vào lịch sử, nhưng bài học từ phong trào này vẫn còn nguyên giá trị. Nghiên cứu của TS. Hoàng Xuân Trung và TS. Nguyễn Minh Hà cho thấy giáo dục không chỉ mang lại kiến thức, mà còn hình thành lối sống và hệ giá trị gia đình – nơi sức khỏe được quan tâm, giáo dục được ưu tiên, và tương lai của con cái được đầu tư nghiêm túc – ngay cả khi thu nhập không đổi.
"Chi phí dành cho chương trình Bình dân học vụ đối với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là rất nhỏ. Tuy nhiên, những kết quả đạt được lại lớn, bền vững và lan tỏa qua nhiều thế hệ. [...] Điều này gợi ý rằng nếu một chính sách giáo dục nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ chính phủ và toàn xã hội - có thể nhờ cách truyền thông rõ ràng, truyền cảm hứng - thì nó có khả năng mang lại những kết quả lớn và bền vững với chi phí tương đối thấp", các tác giả nhận xét.
Theo các tác giả, đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên xem xét tác động lâu dài và qua nhiều thế hệ của một chương trình giáo dục bắt buộc và miễn phí ở quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Nỗ lực của các phong trào Bình dân học vụ trong từng giai đoạn sau chiến tranh ở Việt Nam đã tạo tác động lâu dài, dẫn đến tỷ lệ nữ sinh trung học cơ sở ở Việt Nam bắt kịp, thậm chí vượt qua nam sinh, mở ra nhiều cơ hội hơn cho các bé gái và con cái của họ.
Tài liệu tham khảo:
Trung X. Hoang, Ha Nguyen, "Multi-generational effects of school access in a developing country: Evidence from a mass education program in Vietnam," Economics of Education Review, Volume 97, 2023, 102481, ISSN 0272-7757, https://doi.org/10.1016/j.econedurev.2023.102481
Bài đăng KH&PT số 1359 (số 35/2025)
Nguyễn Ngọc

