![]() |
Sản phẩm "Blife - Hệ thống hỗ trợ giao tiếp cho người khuyết tật vận động nặng" do các nhà khoa học trường ĐH Công nghệ, ĐHQGHN nghiên cứu và phát triển, tại triển lãm "80 năm hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9- Ảnh: VNU Media/Quốc Toản |
Chiến lược vươn lên nhóm quốc gia thu nhập trung bình
Báo cáo "Phát triển thế giới 2024: Bẫy thu nhập trung bình" mà Worldbank công bố vào tháng 82024 giới thiệu cho chúng ta thấy một bức tranh toàn cảnh về nhóm các quốc gia thu nhập trung bình trên thế giới với 108 quốc gia. Mọi quốc gia đều có tham vọng đạt được vị thế thu nhập cao trong vòng hai hoặc ba thập kỷ tới. Tuy nhiên, báo cáo của Worldbank nhận thấy, kể từ những năm 1990, chỉ có 34 nền kinh tế thu nhập trung bình đạt được vị thế thu nhập cao; và kể từ năm 1970, thu nhập bình quân đầu người của các quốc gia thu nhập trung bình chưa bao giờ tăng trên 10% mức của Mỹ.
Qua việc nghiên cứu hơn 100 nền kinh tế trên thế giới, trong đó có Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nam Phi, các chuyên gia Worldbank đã nhận diện được những thách thức mà các quốc gia này phải đối diện và có thể cản trở họ trở thành quốc gia có thu nhập cao trong vài thập kỷ tới. Những thách thức này đến từ cả bên trong và bên ngoài biên giới quốc gia: tình trạng nợ công gia tăng, sự già hóa dân số, áp lực ngày càng gia tăng trong việc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng, thích ứng biến đổi khí hậu, chủ nghĩa bảo hộ gia tăng ở các nền kinh tế tiên tiến...Ông Indermit Gill, chuyên gia Kinh tế Trưởng của Worldbanknhận địnhvề những cái bẫy phát triển mà các quốc gia khao khát vươn lên có thể bị mắc kẹt"Quá nhiều quốc gia trong số quốc gia thu nhập trung bình đã dựa vào những chiến lược lỗi thời để trở thành nền kinh tế tiên tiến. Họ dựa vào chính sách đầu tư trong thời gian quá dài hoặc chuyển sang đổi mới sáng tạo quá sớm..." trong bối cảnh "Với áp lực ngày càng gia tăng về nhân khẩu học, sinh thái và địa chính trị, không có chỗ cho sai lầm".
Vậy việc thiết kế và thực thi những chính sách nào có thể giúp các quốc gia thu nhập trung bình vượt qua những thách thức này và vươn lên? Ông Indermit Gill nhấn mạnh ‘cần có một cách tiếp cận mới: trước tiên tập trung vào đầu tư; sau đó chú trọng vào việc tiếp nhận công nghệ mới từ nước ngoài; và cuối cùng, áp dụng một chiến lược ba mũi nhọn cân bằng giữa đầu tư, tiếp nhận công nghệ và đổi mới".
Để có thể giúp các quốc gia thu nhập trung bình vượt lên trở thành nền kinh tế tiên tiến, cần có một cách tiếp cận mới: trước tiên tập trung vào đầu tư; sau đó nhấn mạnh vào việc tiếp nhận công nghệ mới từ nước ngoài; và cuối cùng, áp dụng một chiến lược ba mũi nhọn cân bằng giữa đầu tư, tiếp nhận công nghệ và đổi mới. Indermit Gill |
Dựa trên việc phân tích các bài học thành công của những quốc gia thành công, các chuyên gia Worldbank đã đề xuất một chiến lược phát triển mà họ gọi là "chiến lược 3 I". Đây có thể được coi như cẩm nang để các quốc gia thu nhập trung bình có thể từng bước vươn lên nhóm các quốc gia có thu nhập cao, bao gồm ba giai đoạn: thứ nhất, thiết kế các chính sách để tăng đầu tư (Investment); thứ hai, thiết kế chính sách tăng đầu tư và tiếp nhận nguồn lực bên ngoài, bao gồm việc tiếp nhận công nghệ từ nước ngoài và áp dụng rộng rãi công nghệ mới (Investment + Infusion); thứ ba, thiết kế chính sách tăng đầu tư, áp dụng công nghệ mới và tự đổi mới sáng tạo (Investment + Infusion + Innovation).
Cẩm nang phát triển của Worldbank đề ra lộ trình vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Các chuyên gia Worldbank lưu ý, chính ở giai đoạn cuối cùng, việc tập trung vào đổi mới sáng tạo giúp các quốc gia có thu nhập trung bình sẽ không còn thuần túy đi vay mượn hoặc sao chép các ý tưởng từ những quốc gia dẫn đầu toàn cầu về phát triển công nghệ nữa bởi tự bản thân mình đã hội tụ đủ năng lực thúc đẩy và tạo ra các ranh giới mới. Họ cũng nêu những quốc gia nổi bật của chiến lược 3I, bao gồm Hàn Quốc, Ba Lan và Chile.
Trong số đó, Hàn Quốc là một ví dụ nổi bật của thành công với cả ba giai đoạn của chiến lược 3 I. Vào những năm 1960, tức là hơn bảy thập niên trước, thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ đạt 1.200 USD nhưng đến cuối năm 2023, con số đó đã tăng lên 33.000 USD. Để tạo ra bước nhảy vọt thần kì này, Hàn Quốc đã bắt đầu với một chính sách tăng đầu tư công và khuyến khích đầu tư tư nhân. Vào những năm 1970, chính sách này đã được chuyển đổi thành chính sách tập trung vào công nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp trong nước áp dụng công nghệ nước ngoài và các phương pháp sản xuất tiên tiến hơn. Sự nhanh nhạy trong tiếp nhận chính sách mới đã giúp nhiều công ty Hàn Quốc thành công. Samsung, từng là một nhà sản xuất mì, đã bắt đầu sản xuất tivi cho thị trường trong nước và khu vực. Để làm được điều này, họ đã tiếp nhận công nghệ từ các công ty Nhật Bản - Sanyo và NEC. Thành công của Samsung đã thúc đẩy nhu cầu về kỹ sư, quản lý và các chuyên gia khác. Chính phủ Hàn Quốc cũng đã tiếp tục ban hành chính sách thúc đẩy nguồn nhân lực chất lượng cao và Bộ Giáo dục Hàn Quốc tăng ngân sách đi kèm với mục tiêu cho các trường đại học công lập đào tạo nhân lực có đủ các kỹ năng mới mà các công ty trong nước đang cần. Ngày nay, Samsung đã trở thành một nhà đổi mới toàn cầu theo đúng nghĩa của nó và trở thành nhà sản xuất hàng đầu về các sản phẩm điện tử như màn hình, pin lithuim-ion, chip, bộ nhớ... cho các đối tác lớn trên toàn cầu, Apple, LG, Sony, Huawei, Xiaomi, Tesla...
Việt Nam đứng ở đâu?
Báo cáo của Worldbank đem lại cho chúng ta nhiều suy nghĩ về Việt Nam và con đường phát triển dựa trên KH&CN, đổi mới sáng tạo. Có thể những gì trong chiến lược 3 I không mới với nhiều người ở Việt Nam bởi đầu tư vào R&D từ lâu đã được cộng đồng khoa học nhắc tới như một giải pháp quan trọng giúp xây dựng đất nước. "Nếu nhìn vào sự thăng trầm trong quá khứ của các quốc gia phát triển hiện nay, không quốc gia nào lại không dựa vào nền tảng KH&CN", giáo sư Nguyễn Hải Nam (ĐH Dược HN) phát biểu tại Lễ kỷ niệm Ngày KH&CN Việt Nam và trao Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2022, đồng thời cho rằng, nghiên cứu khoa học "góp phần đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao. Nếu không có nguồn nhân lực chất lượng cao thì chúng ta không thể tiếp nhận được những công nghệ cao của quốc tế. Và nghiên cứu khoa học chính là nền tảng để một quốc gia bứt phá và dẫn dắt các quốc gia khác".
Mặt khác, từ trước đến nay, trong nhiều văn bản quan trọng của Việt Nam, vai trò của KH&CN, giáo dục đã được đề cập đến như quốc sách hàng đầu để phát triển đất nước. Kể từ cuối năm 2024, thông điệp KH&CN, đổi mới sáng tạo càng được nhấn mạnh như yếu tố cốt lõi và được đặt vào vị trí trọng tâm của động lực phát triển, với nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Bằng chứng cho thấy, việc thực thi những chính sách đầu tư cho R&D đã có những kết quả bước đầu ở Việt Nam: việc đầu tư phát triển tri thức, đặc biệt là KH&CN, đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tăng trưởng, đặc biệt là trong giai đoạn sau năm 2007, thời điểm Việt Nam gia nhập WTO. "Phát hiện của chúng tôi cho thấy, kể từ năm 2007, việc tăng mức đầu tư cho KH&CN 1% sẽ dẫn đến mức tăng trưởng 0,0809% cho nền kinh tế, nhấn mạnh vào phần ‘lãi’ cho đầu tư vào R&D. Tương tự, chi tiêu cho giáo dục cũng có tác động tích cực bền vững (hệ số gia tăng 0,0967), cho thấy cần thời gian để việc đầu tư vào vốn con người có thể mang lại lợi ích kinh tế". theo nhận định của TS. Nguyễn Thị Nguyệt (ĐH Kinh tế quốc dân). "Sự tăng trưởng này phản ánh rõ vai trò ảnh hưởng của cải cách, đặc biệt là sự thể chế hóa của cải cách trong các chính sách KH&CN trong Hiến pháp 2013".
Để phát huy hơn nữa vai trò của R&D trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các nhà hoạch định chính sách nên ưu tiên đầu tư dựa trên tri thức, đặc biệt là vào KH&CN, để duy trì tăng trưởng kinh tế dài hạn. Điều này bao gồm tăng ngân sách cho R&D, thành lập các vườn ươm công nghệ và thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp. TS. Nguyễn Thị Nguyệt |
Trong công bố "Optimizing public expenditure for knowledge-based growth: Evidence from provincial data in Vietnam" (Tối ưu đầu tư công cho tăng trưởng dựa trên tri thức: Bằng chứng từ dữ liệu cấp tỉnh ở Việt Nam), xuất bản trên tạp chí Journal of Asian Economics, TS Nguyễn Thị Nguyệt đã dựa vào dữ liệu cấp tỉnh và các mô hình kinh tế lượng để phát hiện ra "Việc các tỉnh đầu tư cho KH&CN và giáo dục cũng góp phần vào mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người của các tỉnh lần lượt khoảng 10,58% và 9,67%" và mức độ hiệu quả thu dược cũng vượt quá thời kỳ trước năm 2007.
Câu chuyện đầu tư công cho R&D và giáo dục mà TS. Nguyễn Thị Nguyệt phân tích trong giai đoạn 2002-2015 còn cho thấy những kết quả khác: sự khác biệt theo vùng trong kết quả thu được. Nếu ở các tỉnh phía Nam, việc đầu tư cho R&D thúc đẩy tăng trưởng đáng kể thì ở phía Bắc lại không được như vậy. Nguyên nhân được lý giải là các tỉnh phía Nam tận dụng được nguồn lực đầu tư hiệu quả hơn, có thể bắt nguồn từ lịch sử phát triển năng động của vùng đất này và lợi thế hội tụ những trung tâm công nghiệp lớn nhất cả nước, với khoảng 57 % tổng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Trong khi đó, các tỉnh phía Bắc được hưởng lợi nhiều hơn từ chi tiêu cho giáo dục với việc tập trung các viện nghiên cứu lớn và các trường đại học dẫn đầu, qua đó hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tuy nhiên, đa số các trường viện này đều có hạn chế cố hữu là sự thiếu hiệu quả trong sử dụng nguồn ngân sách cho chi thường xuyên và chi cho R&D, đồng thời kết quả nghiên cứu trong các trung tâm tri thức này chưa lan tỏa được một cách rộng rãi ra bên ngoài.
Phát hiện này của TS. Nguyễn Thị Nguyệt thật bất ngờ là tương đồng với nhận xét của một chuyên gia của Tổ chức Sở hữu trí tuệ quốc tế (WIPO), khi trao đổi với Bộ KH&CN về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam vào năm 2019 "Trong quá trình đến Việt Nam khảo sát về tình hình đổi mới sáng tạo tại đây, tôi nhận ra là ở đây, các trường viện như tồn tại trong các ốc đảo, không kết nối được với các doanh nghiệp và các kết quả nghiên cứu chưa chuyển giao được ra ngoài phòng thí nghiệm". Đây chính là thực tại mà hàng thập niên qua đã diễn ra ở Việt Nam, đặc biệt là các tỉnh miền Bắc, nơi vẫn được coi là trung tâm khoa học và giáo dục hàng đầu quốc gia.
Việt Nam có thể học hỏi gì?
Những bằng chứng khoa học về đầu tư cho R&D cũng như những dịch chuyển mà đầu tư vào R&D tác động đến nền kinh tế Việt Nam đã cho thấy lợi ích tiềm năng mà KH&CN, đổi mới sáng tạo có thể mang lại. Nó cũng giúp xác nhận lộ trình phát triển của Việt Nam không thể thiếu. Mặt khác, R&D và nguồn nhân lực R&D. Tuy nhiên, khi nhìn sâu hơn vào bức tranh này, có thể thấy tồn tại một số thách thức mà Việt Nam cần giải quyết để có thể tận dụng được tối đa giá trị mà R&D có thể mang lại và thiết kế một lộ trình thích hợp với các điều kiện, đặc điểm của riêng mình.
Thứ nhất, sự khác biệt về đặc điểm vùng miền cho thấy, rất có thể một chính sách chung cho cả các tỉnh phía Bắc và phía Nam không còn phù hợp. "Sự chênh lệch giữa các tỉnh phía Bắc và Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của các chính sách tài khóa đặc thù theo vùng, tận dụng lợi thế so sánh của từng vùng", TS. Nguyễn Thị Nguyệt lưu ý sau khi chỉ ra những khác biệt giữa hai miền. Bên cạnh đó, các nhà hoạch định chính sách có thể cần nỗ lực nâng cao hiệu quả chi tiêu thường xuyên thông qua việc giám sát và phân bổ lại nguồn lực tốt hơn.
Thứ hai, việc tạo ra hiệu ứng tràn về công nghệ từ các công ty FDI sang công ty Việt Nam cũng cần có sự hỗ trợ chính sách của nhà nước. Theo một nghiên cứu, người ta mới chỉ thấy hiệu ứng này xuất hiện một cách đơn lẻ. Trong bài báo "Does foreign direct investment influence R&D activity in the host country? Evidence from Vietnam", xuất bản trên tạp chí International Journal of Emerging Markets, các nhà nghiên cứu Việt Nam và New Zealand cho rằng, các chính sách cần được thiết kế để tạo được sự liên kết giữa các công ty FDI và công ty Việt Nam, trong đó tập trung vào hỗ trợ năng lực tiếp nhận công nghệ để các công ty nội địa có thể cải thiện công nghệ của mình. Sự hỗ trợ của cơ chế giúp các công ty vươn lên còn ở chỗ hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực thực hiện các hoạt động R&D và đủ sức hấp thụ công nghệ mới. Với những hỗ trợ chính sách đó, các công ty Việt Nam có thể từng bước trở thành người tham gia vào chuỗi cung cấp một số sản phẩm công nghệ cho các công ty FDI. Với lợi thế năng động của mình, các công ty phía Nam có thể tận dụng tốt cơ hội này.
Mặt khác, để các công ty FDI có thể yên tâm đặt các trung tâm R&D tại Việt Nam, chính phủ có thể củng cố hơn nữa vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Thứ hai, với lợi thế của các tỉnh phía Bắc, nơi thành công trong đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu, cần có những cơ chế để kết quả nghiên cứu lan tỏa ra bên ngoài phòng thí nghiệm. Trong nhiều cuộc trao đổi, nhiều nhà nghiên cứu ở ĐHQGHN, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam xác nhận rằng, họ thiếu các cơ chế để tối ưu kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ, thiếu những chính sách rõ ràng để thoát khỏi những ràng buộc cố hữu trong chuyển giao công nghệ, thiếu cơ chế để thiết lập mối liên kết với doanh nghiệp... "Nhà khoa học không thể tự biến kết quả nghiên cứu cơ bản thành công nghệ có thể áp dụng ở thế giới thực, không thể tự mình đi chào hàng cho các doanh nghiệp và lại càng không thể chuyển giao cho doanh nghiệp khi mình không phải là chủ sở hữu công nghệ", một nhà khoa học ở Viện hàn lâm chia sẻ.
Rõ ràng, đây là một trong những lý do mà các trường đại học hay các viện nghiên cứu không thể góp phần thúc đẩy những "thung lũng Silicon" ở Việt Nam, mặc dù có thể có nguồn nhân lực tinh nhuệ. Do đó, để phát huy hơn nữa vai trò của R&D trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, "các nhà hoạch định chính sách nên ưu tiên đầu tư dựa trên tri thức, đặc biệt là vào KH&CN, để duy trì tăng trưởng kinh tế dài hạn. Điều này bao gồm tăng ngân sách cho R&D, thành lập các vườn ươm công nghệ và thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp", TS. Nguyễn Thị Nguyệt đề xuất.
Thứ ba, để hỗ trợ các hoạt động đổi mới sáng tạo hơn nữa, chính phủ có thể đưa ra các ưu đãi thuế đối với các công ty Việt Nam phát triển công nghệ và khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào tự động hóa và số hóa công nghiệp. Hơn nữa, việc tích hợp học tập dựa trên AI vào chương trình giảng dạy quốc gia có thể nâng cao khả năng thích ứng của lực lượng lao động, chuẩn bị cho lực lượng lao động sẵn sàng cho nền kinh tế số.
Những khoảng trống chính sách đang chờ được lấp đầy và những hiệu quả thực thi những chính sách ấy đang được chờ đợi sẽ hiển thị. Sau sự ra đời của nghị quyết 57 và những văn bản pháp lý quan trọng khác vào đầu năm 2025, một loạt những chuyển động mới trong bức tranh tổng thể về R&D sẽ tới chăng? Chúng ta hãy cùng chờ xem!
Bài đăng KH&PT số 1360 (số 36/2025)
Thanh Nhàn
