Xin ông cho biết mục tiêu của dự án hợp tác này là gì?
Lúa là cây lương thực số một ở Việt Nam. Lúa đóng góp tới trên 90% sản lượng lương thực của cả nước. Vì vậy chúng ta phải hiểu biết rất tường tận về bộ máy di truyền của cây lúa, trước hết là về các gene chống chịu với các điều kiện bất lợi của môi trường. Các hiểu biết này cho phép chúng ta khai thác có hiệu quả tài nguyên di truyền cây lúa cho các mục đích nghiên cứu và chọn tạo giống. Mục tiêu ngắn hạn của hợp tác này là trên cơ sở các thông tin về genome (hệ gene) xây dựng nên các dấu chuẩn phân tử dựa trên đa hình đơn nucleotid sử dụng cho chọn tạo các giống lúa kháng rầy nâu, đạo ôn, khô vằn, bạc lá, chịu ngập, chịu mặn... Mục tiêu dài hạn của dự án là tiếp thu công nghệ, đào tạo cán bộ cho việc xây dựng các cơ sở dữ liệu của các giống lúa bản địa để phục vụ cho nghiên cứu và chọn giống của cả nước.
Đối với Viện Di truyền nông nghiệp, dự án hợp tác với Anh này có ý nghĩa như thế nào?
Hiện nay chúng ta chưa có năng lực tự phát triển các công cụ genome cho chọn tạo giống cây trồng. Dự án này là dự án đầu tiên ở Việt Nam cho phép chúng ta tiếp cận từng bước với các công cụ genome học và tin sinh học, sử dụng cho chọn tạo giống cây trồng. Thông qua hợp tác với bạn, chúng ta tiếp cận với công nghệ, đào tạo cán bộ trong các lĩnh vực này và sẽ từng bước phát triển lĩnh vực genome học trong nước, không chỉ với cây lúa mà với các cây trồng quan trọng của Việt Nam. Biến genome học thành công cụ hiệu quả cho nghiên cứu và chọn tạo các giống cây trồng mới có các đặc tính cần thiết giúp chúng ta ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu đảm bảo an ninh lương thực bền vững cho đất nước. Dự án là một bước phát triển rất quan trọng của Viện trên con đường làm chủ các công cụ hiện đại phục vụ cho mục đích nghiên cứu và ứng dụng của mình.
Theo ông với trình độ KH&CN và ngân sách dành cho nghiên cứu của Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu các giống lúa mới thích ứng với những thay đổi của môi trường, khí hậu cần được tổ chức như thế nào?
![]() |
Ông có thể cho biết các quốc gia lân cận đang nỗ lực nghiên cứu các giống lúa mới thích ứng với biến đổi khí hậu như thế nào không?
Chúng ta tiếp cận với chọn tạo giống ứng phó với biến đổi khí hậu muộn hơn so với các nước khác trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Philippines... Tại các nước này, giống lúa chịu mặn để ứng phó với nước biển dâng, giống lúa chịu ngập để trồng trong vùng hay xảy ra lũ lụt đã được tạo ra và đưa vào sản xuất từ những năm trước. Thậm chí Indonesia đã tạo giống lúa siêu ngắn ngày (80-85 ngày) để có thể sản xuất 4 vụ/năm nhằm ứng phó với việc mất đất trồng lúa do phát triển đô thị và nước biển dâng. Thái Lan đã có những giống siêu lúa, chịu được phần lớn các tác nhân bất lợi của môi trường. Việt Nam mới bắt đầu từ năm 2010.
Biến đổi khí hậu làm tăng hiện tượng cực đoan của thời tiết, như quá nóng, quá lạnh, lũ, hạn, nước biển dâng gây nhiễm mặn, các bệnh mới xuất hiện, như virus, rầy....biến đổi khí hậu cũng tăng mức độ thiệt hại do các bệnh cũ gây ra. Vì vậy, cần chọn tạo giống cây trồng ứng phó với biến đổi khí hậu thành chiến lược lớn của ngành nông nghiệp Việt Nam.
Ngọc Tú thực hiện
