Hồ Dầu Tiếng, công trình thủy lợi nhân tạo lớn nhất Việt Nam, từ lâu đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội không chỉ của tỉnh Tây Ninh mà còn nhiều địa phương lân cận. Với diện tích mặt nước hơn 262 km², dung tích 1,58 tỷ m³, hồ cung cấp nguồn nước tưới cho hàng trăm nghìn héc-ta đất nông nghiệp, đảm bảo nước sinh hoạt và sản xuất công nghiệp cho các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Long An và TPHCM (cũ). Đồng thời, hồ còn giúp điều tiết lũ, duy trì đa dạng sinh học thủy vực, phát triển du lịch sinh thái, đặc biệt là nguồn cung thủy sản tự nhiên dồi dào cho người dân quanh khu vực.
Hằng năm, sản lượng khai thác thủy sản trên hồ tại địa bàn tỉnh Tây Ninh đạt khoảng 2.100 – 2.300 tấn, với khoảng 585 phương tiện tham gia khai thác, chủ yếu là hộ gia đình nhỏ lẻ, sử dụng thuyền composite dài dưới 12 m, gắn động cơ công suất nhỏ. Đây là nguồn sinh kế quan trọng, cung cấp thực phẩm cho thị trường địa phương. Tuy nhiên, tình trạng khai thác thủy sản trên hồ Dầu Tiếng những năm gần đây đang đặt ra nhiều lo ngại.
Trong bối cảnh đó, Sở KH&CN Tây Ninh đã giao Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II thực hiện đề tài "Hiện trạng và giải pháp quản lý nguồn lợi thủy sản gắn với quản lý tổng hợp nguồn tài nguyên nước ở hồ Dầu Tiếng".
Nhóm thực hiện Đề tài đã xác định được 82 loài thủy sản (80 loài cá, 2 loài tôm) phân bố trên hồ Dầu Tiếng, phản ánh sự đa dạng sinh học đáng kể. Song khảo sát cũng chỉ ra những nguy cơ tiềm ẩn: phần lớn trong số 60 ngư dân đang khai thác và 120 hộ dân sống quanh hồ được hỏi đều nhận định sản lượng cá ngày càng giảm, đặc biệt trong mùa khô. Các nguyên nhân chính được xác định là do ngư dân sử dụng lưới mắt nhỏ hơn quy định, ngư cụ hủy diệt nguồn lợi như xung điện vẫn còn phổ biến, chiếm hơn 50%. Ngoài ra, tình trạng khai thác cá bố mẹ ngay tại bãi đẻ trong mùa sinh sản, cùng với việc đánh bắt cá non cũng như mật độ khai thác quá cao, khi có hơn 1.000 ngư dân hoạt động liên tục trên hồ, tạo áp lực lớn lên nguồn lợi thủy sản.
![]() |
Một số ngư cụ tham gia khai thác thuỷ sản trên hồ Dầu Tiếng. Ảnh: NNC |
Trước thực trạng đó, nhóm nghiên cứu đề xuất nhiều giải pháp mang tính chiến lược để bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản hồ Dầu Tiếng. Cụ thể, trước tiên cần bảo vệ nghiêm ngặt các bãi đẻ trong mùa sinh sản.
Qua gần hai năm (2022 –2024) khảo sát, nhóm nghiên cứu đã xác định tám vị trí bãi đẻ tập trung của các loài cá trên lưu vực hồ Dầu Tiếng cần được bảo vệ trong mùa sinh sản từ tháng Sáu đến tháng Chín âm lịch, gồm: Hóc Cò, Hóc Thủy sản, Đảo Sặc, Bến Tám Tơ và Cây Da Tàng Dù (xã Suối Đá, huyện Dương Minh Châu); Đường Đứt, Chuồng Bò và Bầu Vuông (xã Tân Hòa, huyện Tân Châu). Trong đó, Hóc Cò được ghi nhận là nơi tập trung nhiều nhất các loài cá vào mùa sinh sản, nhờ có thảm thực vật thủy sinh ngập nước thuận lợi cho việc đẻ trứng.
Nhóm nghiên cứu đề xuất, tại các vị trí này, cơ quan chức năng cần cắm phao cảnh báo, nghiêm cấm khai thác có thời hạn trong mùa sinh sản. Việc bảo vệ bãi đẻ, kết hợp thả giống tái tạo nguồn lợi, được coi là giải pháp cấp bách nhằm duy trì quần đàn tự nhiên.
Cùng với đó, nhóm nghiên cứu khuyến nghị hình thành mô hình đồng quản lý dựa vào cộng đồng ngư dân, gắn trách nhiệm khai thác với bảo vệ nguồn lợi. Ngư dân sẽ được tổ chức thành nhóm nghề, tuân thủ quy định sử dụng ngư cụ chọn lọc, tránh các phương thức hủy diệt. Ngoài ra, cần tăng cường tuyên truyền, tập huấn kỹ thuật khai thác bền vững, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ nguồn lợi lâu dài.
Một giải pháp khác là chuyển đổi sinh kế: hỗ trợ ngư dân tham gia nuôi trồng thủy sản ven hồ với các loài phù hợp như cá lóc, cá rô, cá thát lát, cá bống tượng, ba ba... Việc này vừa giảm áp lực khai thác, vừa giúp người dân có nguồn thu nhập ổn định.
Nghiên cứu cũng đề xuất thí điểm thả rạn nhân tạo (bê tông, đá, gạch, gỗ, tre, san hô,...), để tạo nơi trú ngụ, sinh sản tự nhiên cho cá, kết hợp giám sát môi trường nước thường xuyên để kịp thời cảnh báo và xử lý các tác động bất lợi.
Theo nhóm thực hiện, các giải pháp nêu trên không chỉ hướng đến cân bằng giữa bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế và ổn định xã hội, mà còn có thể trở thành mô hình mẫu áp dụng cho các hồ chứa lớn khác trong cả nước.
Với những kết quả nghiên cứu này, tỉnh Tây Ninh có thêm cơ sở khoa học để hoạch định chính sách quản lý thủy sản hồ Dầu Tiếng theo hướng bền vững.
Tin đăng KH&PT số 1363 (số 39/2025)
Ngọc Hân
