Tháng trước, tạp chí Nature Food công bố một nghiên cứu gây chú ý trong cộng đồng khoa học nông nghiệp toàn cầu. Nhóm tác giả từ Boston College và nhiều viện nghiên cứu quốc tế, sau khi phân tích dữ liệu từ hơn 1.255 điểm thí nghiệm thực địa trên khắp thế giới, đưa ra kết luận: lượng phát thải khí nhà kính từ ruộng lúa toàn cầu đã tăng gần gấp đôi trong vòng sáu thập kỷ qua [1].
Là quốc gia đứng thứ năm thế giới về sản lượng lúa, chúng ta đang đứng trước một mâu thuẫn: vừa cam kết đạt phát thải ròng khí nhà kính bằng 0 vào năm 2050, vừa không thể từ bỏ cây lúa bởi đó là nền tảng an ninh lương thực và sinh kế của hàng triệu nông dân.
Điều xảy ra bên dưới những ruộng lúa nước
Đồng bằng sông Cửu Long, vùng trồng lúa quan trọng nhất của Việt Nam, là nơi phát thải nhiều nhất tính theo đơn vị diện tích. Trong ảnh: Những cánh đồng lúa ở huyện Tịnh Biên, An Giang. Tác giả: Dương Việt Anh
Theo Ngân hàng Thế giới, sản xuất lúa gạo chiếm khoảng 48% tổng lượng phát thải khí nhà kính của ngành nông nghiệp Việt Nam. Trong đó, metan (CH₄) - một loại khí nhà kính có khả năng gây nóng lên toàn cầu cao - là thành phần phát thải chủ yếu, với hơn 75% lượng phát thải metan của ngành nông nghiệp đến từ hoạt động sản xuất lúa gạo [2]. Tính trên toàn bộ nền kinh tế, metan từ canh tác lúa chiếm 15% tổng phát thải khí nhà kính quốc gia [3].
Điểm đáng chú ý là lượng phát thải này không đồng đều giữa các vùng sinh thái. Đồng bằng sông Cửu Long, nơi đóng góp 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước, có hệ số phát thải metan bình quân khoảng 1,92 kg CH₄/ha/ngày, cao hơn đáng kể so với mức trung bình khu vực Đông Nam Á (1,22 kg/ha/ngày) [4] và mức điển hình mà IPCC sử dụng làm cơ sở tính toán phát thải từ ruộng lúa (1,19 kg/ha/ngày) [5]. Điều này có nghĩa là vùng trồng lúa quan trọng nhất của Việt Nam cũng là nơi phát thải nhiều nhất tính theo đơn vị diện tích.
Nghiên cứu trên Nature Food xác định tập quán vùi rơm rạ tươi xuống đất ngập nước nhằm ủ phân hữu cơ trả lại dinh dưỡng cho đất và hạn chế khói bụi từ việc đốt đồng là một trong hai nguyên nhân chính gây phát thải, bên cạnh mở rộng diện tích canh tác [1].
Đốt rơm rạ là tập quán phổ biến ở Việt Nam vì nhanh và không tốn chi phí, nhưng kéo theo hai hậu quả cộng dồn về mặt khí hậu: thải CO₂ và bồ hóng ngay lập tức vào khí quyển. Theo Ngân hàng Thế giới, đồng bằng sông Cửu Long đốt hơn 80% lượng rơm rạ ngay tại ruộng sau thu hoạch [6].
Đáng nói là, phần rơm rạ còn lại sau thu gom để đốt được vùi xuống đất ngập nước tiếp tục đẩy mức phát thải của vụ tiếp theo lên cao hơn đáng kể. Nguyên nhân là khi rơm rạ tươi phân hủy trong điều kiện yếm khí, lượng chất hữu cơ đưa vào môi trường đất ngập nước kỵ khí bên dưới mỗi ruộng lúa, tăng vọt, tạo điều kiện cho vi khuẩn sinh metan hoạt động và phân hủy chất hữu cơ thành khí nhà kính.
Bên cạnh hai tập quán đốt và vùi rơm rạ, chế độ tưới nước cũng là biến số then chốt. Người nông dân có xu hướng giữ nước liên tục trên ruộng để ức chế cỏ dại, xả phèn và đơn giản hóa quản lý tưới tiêu. Chính tập quán này tạo điều kiện lý tưởng cho vi khuẩn sinh metan hoạt động quanh năm.
Ngoài ra, thói quen lạm dụng phân đạm với mục đích tối đa hóa sản lượng vừa làm tăng phát thải nitơ oxit (N₂O), một loại khí nhà kính có tiềm năng nóng lên toàn cầu cao gấp khoảng 300 lần CO₂, vừa thúc đẩy sinh khối thực vật tạo thêm chất hữu cơ phân hủy trong điều kiện yếm khí.
Một yếu tố nữa ít được nhắc đến nhưng có tầm quan trọng ngày càng lớn là nhiệt độ. Khi nhiệt độ trung bình tăng do biến đổi khí hậu, hoạt động của vi sinh vật sinh metan trong đất ngập nước cũng tăng theo. Các nghiên cứu định lượng cho thấy, quá trình sinh metan đặc biệt nhạy cảm với nhiệt độ, có thể khiến lượng phát thải CH4 từ các vùng đất ngập nước tăng từ 4-7% trên mỗi 1oC ấm lên toàn cầu [7]. Nói cách khác, chính biến đổi khí hậu đang gián tiếp đẩy mức phát thải từ ruộng lúa lên cao hơn, tạo ra một vòng phản hồi tự khuếch đại.
Những mô hình thí điểm giảm phát thải lạc quan
Các nghiên cứu quốc tế nhận định kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ (Alternate Wetting and Drying - AWD) là một giải pháp khả thi. AWD hết sức đơn giản về nguyên lý: thay vì giữ nước liên tục trên ruộng, nông dân để mặt ruộng khô đến mức nhất định trước khi tưới lại. Giai đoạn để khô đó đưa oxy vào đất, phá vỡ điều kiện yếm khí mà vi khuẩn sinh metan cần để tồn tại.
Một mô hình thí điểm tại xã Đông Thuận, Thới Lai, Cần Thơ thuộc Đề án Phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: Minh Phú
Hiệu quả của AWD tại Việt Nam đã được ghi nhận qua nhiều thử nghiệm tại nhiều vùng sinh thái khác nhau. Một nghiên cứu triển khai tại đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2014-2016 cho thấy AWD làm giảm phát thải metan trung bình từ 13 tấn CO₂ tương đương/ha xuống còn 3,6 tấn CO₂ tương đương/ha, tức giảm tới 72% so với canh tác ngập thường xuyên. Đáng nói là năng suất lúa trong các lô thí nghiệm AWD không giảm đáng kể. Tại các cánh đồng lúa ba vụ ở đồng bằng sông Cửu Long, AWD được ghi nhận làm giảm 51% phát thải metan hằng năm và thậm chí năng suất lúa còn tăng thêm 9% [8].
Kết quả không chỉ giới hạn ở miền Nam. Nghiên cứu tại đồng bằng sông Hồng và vùng duyên hải miền Trung cũng xác nhận AWD làm giảm phát thải, dù dữ liệu chi tiết về miền Trung còn hạn chế [9].
Tuy nhiên, áp dụng AWD đòi hỏi hạ tầng thủy lợi có khả năng điều tiết chủ động, trong khi nhiều vùng ở đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống kênh rạch chịu tác động của thủy triều và xâm nhập mặn, khiến việc kiểm soát mực nước theo quy trình AWD không phải lúc nào cũng khả thi.
Một hướng tiếp cận mới đang được xem xét là gắn nỗ lực giảm phát thải trong nông nghiệp với cơ chế tín chỉ carbon. Tháng 9/2024, Ngân hàng Thế giới và Cơ chế Tài sản Carbon Chuyển đổi (TCAF) đã phê duyệt Phiếu Ý tưởng Dự án của Việt Nam, mở đường cho việc huy động tài chính dựa trên kết quả giảm phát thải. Theo cam kết ban đầu, Việt Nam có thể nhận được 33,3 triệu USD, và có thể tăng lên 40 triệu USD tùy thuộc vào lượng phát thải khí nhà kính được cắt giảm trong quá trình thực hiện [10] để chi trả trực tiếp cho nông dân tham gia mô hình phát thải thấp thông qua tín chỉ carbon. Với năng lực giảm phát thải khoảng 3 tín chỉ/ha/vụ theo các mô hình canh tác lúa bền vững, nông dân có thể thu thêm đến 1.500.000 đồng/ha/vụ từ việc bán tín chỉ carbon, ngoài các lợi ích tiết kiệm chi phí đầu vào khác đã được ghi nhận [11], mỗi tín chỉ tương đương 1 tấn CO₂e (đơn vị quy đổi tác động giữ nhiệt của các loại khí nhà kính khác nhau về mức tương đương của khí CO2) .
Đáng chú ý, Việt Nam đã phê duyệt lộ trình thị trường carbon nội địa vào tháng 1/2025, với giai đoạn thí điểm Hệ thống giao dịch phát thải (ETS) bắt đầu từ tháng 6/2025 và dự kiến vận hành chính thức từ năm 2029 [12]. Bằng cách buộc các ngành công nghiệp nặng phải mua tín chỉ xanh để bù đắp lượng phát thải vượt trần, dòng vốn lớn sẽ được điều hướng thẳng về khu vực nông nghiệp. Hệ quả là việc giảm phát thải từ lúa gạo không còn là nghĩa vụ môi trường tự nguyện, mà trở thành một 'ngành hàng' có giá sàn minh bạch, tạo động lực kinh tế trực tiếp cho nông dân chuyển đổi phương thức canh tác.
Đề án phát triển bền vững một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, được xem là sáng kiến quy mô lớn hiếm có trong việc kết hợp nâng cao chất lượng nông sản, giảm phát thải và xây dựng thị trường tín chỉ carbon [13].
Giai đoạn 2024–2025, các mô hình thí điểm tại nhiều tỉnh cho thấy chi phí sản xuất giảm 8,2–24,2%, phát thải giảm 3,7–4,6 tấn CO₂e/ha, thậm chí trên 10 tấn ở một số trường hợp. Đồng thời, lượng phân bón giảm hơn 30% và giống giảm 50–65% mà không ảnh hưởng năng suất [14]. Một bước tiến thực tiễn khác là việc xuất khẩu lô 500 tấn gạo phát thải thấp sang Nhật Bản vào năm 2025, mở ra khả năng thương mại hóa có nhiều tiềm năng cho người nông dân [15]. Để được gắn nhãn 'phát thải thấp' vượt qua hàng rào kỹ thuật khắt khe của thị trường này, lô gạo phải được kiểm chứng dựa trên hệ thống tiêu chí nghiêm ngặt: áp dụng triệt để kỹ thuật AWD giúp cắt giảm tối đa khí metan, quản lý thu gom rơm rạ triệt để khỏi lòng đất yếm khí, và phải có dữ liệu đo đạc, thẩm định lượng carbon giảm phát thải một cách minh bạch từ các tổ chức độc lập [16].
Việt Nam cần nghiên cứu sâu hơn về các giống lúa có tiềm năng phát thải thấp. Trong ảnh: Thu hoạch từ một mô hình thí điểm lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Hợp tác xã Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh, Cần Thơ. Tác giả: An Bình
Để hình thành những chuẩn mực mới của ngành lúa gạo
Các nỗ lực giảm phát thải từ lúa gạo đặt trong bối cảnh một cam kết chính sách lớn hơn: Việt Nam tuyên bố sẽ đạt phát thải ròng khí nhà kính bằng 0 vào năm 2050. Trong đó, nông nghiệp chỉ được phép thải tối đa 56 triệu tấn CO₂e [17]. Lưu ý rằng, hiện nay phát thải khí metan từ canh tác lúa ở Việt Nam đã tương đương 49,7 triệu tấn CO₂ mỗi năm [18]. Bởi vậy, ngành nông nghiệp bắt buộc phải tái cấu trúc để hoàn thành mục tiêu cắt giảm phát thải, với lúa gạo là mặt trận hàng đầu.
Rào cản lớn nhất đối với việc giảm phát thải trong ngành lúa gạo Việt Nam hiện nay được cho là nằm ở cấu trúc canh tác manh mún ở quy mô kinh tế hộ gia đình nhỏ lẻ trên các thửa ruộng phân tán [19]. Nghiên cứu trên Frontiers in Sustainable Food Systems đầu năm 2026 cho thấy mô hình sản xuất lúa quy mô lớn ở đồng bằng sông Cửu Long có lợi thế hơn so với mô hình hộ gia đình nhỏ lẻ về mặt phát thải: canh tác lớn phát thải khoảng 6.950 kg CO₂e/ha, so với 7.900 kg CO₂e/ha ở canh tác truyền thống [20]. Do đó, việc tích tụ ruộng đất và tổ chức sản xuất quy mô lớn trở thành điều kiện tiên quyết.
Ngoài ra, những kết quả ban đầu từ các mô hình thí điểm AWD, canh tác lúa bền vững hay cơ chế tín chỉ carbon nêu trên mới phản ánh tiềm năng hơn là một sự chuyển đổi đã hoàn tất. Thách thức phía trước nằm ở khả năng nhân rộng chúng trong một hệ thống sản xuất vốn bị ràng buộc bởi hạ tầng và thói quen canh tác để biến những mô hình thành công thành chuẩn mực mới của ngành lúa gạo.
Đặc biệt, cần nghiên cứu sâu hơn về các giống lúa có tiềm năng phát thải thấp, vì bằng chứng từ các thí nghiệm tại An Giang và các nghiên cứu quốc tế cho thấy giống lúa có ảnh hưởng đáng kể đến lượng metan phát thải ngay cả khi cùng chế độ tưới nước. Tiêu biểu là các giống lúa sở hữu bộ rễ ít tiết dịch hữu cơ (ngắt nguồn cấp 'thức ăn' cho vi khuẩn sinh metan), hệ thống mô khí tối ưu giúp tăng cường oxy hóa dòng khí ngay trong đất, và chỉ số thu hoạch cao ưu tiên dồn carbon vào hạt thay vì tích tụ sinh khối dư thừa ở thân rễ) [21].
Về dài hạn, hệ thống canh tác lúa nước cần được nhìn nhận không chỉ như một hệ thống sản xuất lương thực, mà còn như một hệ thống quản lý khí hậu quy mô lớn. Điều chỉnh hệ thống đó theo hướng ít phát thải hơn là một công việc phức tạp, cần sự phối hợp giữa nghiên cứu khoa học, chính sách hỗ trợ và sự tham gia tích cực của cộng đồng nông dân, những người nắm giữ kiến thức thực địa về đặc điểm đất đai, nước và khí hậu của từng tiểu vùng sinh thái cụ thể.
---
Chú thích:
[1] Global rice paddy greenhouse gas emissions have doubled over the past six decades driven by area expansion and intensified residue incorporation. Nature Food, 2026. https://doi.org/10.1038/s43016-026-01355-8
[2] Spearheading Vietnam's green agricultural transformation: Moving to low-carbon rice. World Bank Group, 2022. https://documents1.worldbank.org/curated/en/099735109222222315/pdf/P17448205335130730bb7e0a6e231e1f667.pdf
[3] Blueprint for outscaling low-emissions rice farming in Vietnam. Climate and Clean Air Coalition, 2021. https://www.ccacoalition.org/projects/blueprint-outscaling-low-emissions-rice-farming-vietnam
[4] Methane emission from rice cultivation in different agro-ecological zones of the Mekong River Delta: Seasonal patterns and emission factors for baseline water management. Soil Science and Plant Nutrition, 2018. https://doi.org/10.1080/00380768.2017.1413926
[5] 2019 Refinement to the 2006 IPCC guidelines for national greenhouse gas inventories (Volume 4: Agriculture, Forestry and Other Land Use). IPCC. https://www.ipcc-nggip.iges.or.th/public/2019rf/vol4.html
[6] Greening the rice we eat. World Bank Blogs, 15/3/2022. https://blogs.worldbank.org/en/eastasiapacific/greening-rice-we-eat
[7] Climate feedback from wetland methane emissions. Geophysical Research Letters, 2004. https://doi.org/10.1029/2004GL020919
[8] Increased rice yield and reduced greenhouse gas emissions through alternate wetting and drying in a triple-cropped rice field in the Mekong Delta. Science of The Total Environment, Arai, 2022. https://doi.org/10.1016/j.scitotenv.2022.156958
[9] Mitigating greenhouse gas emissions through alternate wetting and drying (AWD) in paddy rice cultivation of Northern and Central Vietnam: Regional variations and data limitations. Soil and Tillage Research, 2023. https://doi.org/10.1016/j.still.2023.105658
[10] Viet Nam receives $33.3 million in funding to pay for rice carbon credits. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2024. https://en.mae.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin-Eng.aspx?ItemID=8404
[11] Trồng lúa chất lượng cao, còn hưởng thêm tiền bán tín chỉ carbon. Tuổi Trẻ Online, 10/9/2024. https://tuoitre.vn/trong-lua-chat-luong-cao-con-huong-them-tien-ban-tin-chi-carbon-20240910134303548.htm
[12] Vietnam approves carbon market roadmap, pilot ETS to launch June 2025. International Carbon Action Partnership. https://icapcarbonaction.com/en/news/vietnam-approves-carbon-market-roadmap-pilot-ets-launch-june-2025
[13] Đề án 1 triệu ha lúa thay đổi tư duy sản xuất của nông dân Tây Ninh. VietnamPlus, 5/6/2026. https://www.vietnamplus.vn/de-an-1-trieu-ha-lua-thay-doi-tu-duy-san-xuat-cua-nong-dan-tay-ninh-post1114843.vnp
[14] 'Cánh đồng xanh, công nghệ sạch': Lúa chất lượng cao mở tương lai mới cho ĐBSCL. Báo điện tử Chính phủ, 21/11/2025. https://baochinhphu.vn/canh-dong-xanh-cong-nghe-sach-lua-chat-luong-cao-mo-tuong-lai-moi-cho-dbscl-10225112117212597.htm
[15] Lần đầu xuất khẩu gạo Việt xanh phát thải thấp sang Nhật Bản. Vietnam.vn, 5/6/2025). https://www.vietnam.vn/en/xuat-khau-gao-viet-xanh-phat-thai-thap-dau-tien-sang-nhat-ban
[16] SRP standard for sustainable rice cultivation (Version 2.1). Sustainable Rice Platform, 2020. https://sawie.net/wp-content/uploads/2025/01/SRP-Standard-for-Sustainable-Rice-Cultivation-Version-2.1.pdf
[17] Quyết định số 896/QĐ-TTg: Phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050. Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp. https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2022/07/896-ttg.signed.pdf
[18] Current situation and solutions for methane (CH4) emission in paddy rice cultivation in Vietnam. VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, 2023. https://doi.org/10.25073/2588-1094/vnuees.4909
[19] Restructuring the Vietnamese rice sector: Towards sustainable value chains. Rice Science, 2017. https://doi.org/10.3390/su9020325
[20] Potential for CO2 emission reduction from large-scale rice fields in the Mekong Delta, Vietnam: a case study on OM4040 rice variety. Frontiers in Sustainable Food Systems, 2025. https://doi.org/10.3389/fsufs.2025.1617417
[21] Potential plant traits and mechanisms behind methane emissions in rice and target genes for further dissection of their roles. Plant Production Science, 2025. https://doi.org/10.1080/1343943X.2025.2590202