Cuộc chuyển đổi năng lượng của Việt Nam không còn chỉ là câu chuyện về sản xuất mà là bài toán của hạ tầng. Trong ảnh: Công nhân truyền tải điện Thừa Thiên Huế thực hiện việc thay sứ đường dây 500 KV năm 2022. Tác giả: Võ Thanh.
Việt Nam đang đầu tư mạnh vào điện gió, điện mặt trời, pin lưu trữ, hydrogen xanh, thậm chí chuẩn bị cho điện hạt nhân trở lại. Nhưng hiệu quả đầu tư không nằm hoàn toàn ở sản xuất. Thách thức lớn nhất ở hạ tầng truyền tải và vận chuyển năng lượng.
Phiên bản 2026 của bộ Cẩm nang Công nghệ ngành điện Việt Nam [1] vừa công bố hôm 14/5 lần đầu tiên tách riêng lĩnh vực truyền tải và vận chuyển năng lượng thành một hợp phần độc lập.
Đây là sự thừa nhận rõ ràng rằng năng lượng tái tạo không thể phát huy hiệu quả ở quy mô quốc gia nếu thiếu hệ thống vận chuyển tương thích. Nói cách khác, cuộc chuyển đổi năng lượng của Việt Nam không còn chỉ là câu chuyện về sản xuất mà là bài toán của hạ tầng.
Truyền tải điện: Đắt đỏ nhưng cần thiết
Trong 7 năm trở lại đây, trọng tâm của ngành năng lượng tập trung vào giảm chi phí sản xuất điện tái tạo. Tuy nhiên, tại nhiều khu vực, tình trạng cắt giảm công suất phát điện tái tạo lên lưới (curtailment) đã trở thành vấn đề thực tế do hạ tầng truyền tải chưa theo kịp tốc độ phát triển nguồn [2].
Theo các đánh giá kinh tế, chỉ cần hạ 10-20% mức cắt giảm công suất thông qua nâng cấp lưới điện, hiệu quả tài chính của dự án có thể cải thiện đáng kể.
Chẳng hạn, một dự án điện mặt trời cỡ trung, có công suất lắp đặt cực đại 40 megawatt (MW) nếu được phát điện đầy đủ lên lưới sẽ thu về từ 240-300 triệu đồng/ngày. Nhưng nếu cắt giảm công suất 1/5 sẽ thiệt hại từ 50-60 triệu đồng/ngày. Mức cắt giảm càng ít sẽ càng giảm rủi ro doanh thu cho chủ dự án và nhà đầu tư, nhất là với các dự án cỡ lớn dựa chủ yếu vào nguồn vốn vay.
"Điều đó đồng nghĩa với việc lưới điện đang trở thành một trong những yếu tố then chốt quyết định khả năng thu hồi vốn và sức hấp dẫn đầu tư", ông Bùi Văn Thịnh, Chủ tịch Hiệp hội Điện gió và Điện mặt trời tỉnh Bình Thuận, trao đổi với báo chí trong một buổi gặp mặt cách đây vài năm.
Tuy nhiên, mở rộng lưới điện đòi hỏi nguồn vốn khổng lồ và đến nay vẫn cơ bản là việc của Nhà nước. Khu vực tư nhân mới chỉ bắt đầu tham gia ở quy mô hạn chế, tập trung vào các tuyến truyền tải nhỏ để đưa điện tái tạo từ nơi sản xuất tới các khu công nghiệp lân cận hoặc kết nối vào hệ thống điện quốc gia.
Chi phí đầu tư đường dây HVAC và HVDC ở Việt Nam. Đồ họa: TL.
Theo Cẩm nang 2026, chi phí đầu tư đường dây truyền tải điện HVAC hiện dao động khoảng 23-40 tỷ đồng/km, bao gồm cả đường dây và các trạm biến áp.
HVAC truyền tải điện bằng dòng điện xoay chiều (AC) từ nhà máy điện đến các trạm biến áp gần khu dân cư hoặc khu công nghiệp. Phương thức này dùng điện áp cao (110-1000kV) để giảm tổn thất khi dòng điện đi xa.
Được biết, dự án đường dây 500kV mạch 3 Quảng Trạch - Phố Nối dài hơn 500 km mới hoàn thành có tổng mức đầu tư gần 22.000 tỷ đồng. Đây là đường dây đưa điện từ miền Trung ra miền Bắc nhằm giải tỏa công suất cho các nhà máy nhiệt điện tại miền Trung và các dự án năng lượng tái tạo tại khu vực Nam Trung Bộ
Nhưng đường dây Quảng Trạch - Phố Nối mới là một trong hàng trăm dự án mà Việt Nam cần làm để đạt mục tiêu xây dựng hơn 28.000 km đường dây truyền tải cho toàn bộ lưới điện quốc gia đến năm 2030, theo Quy hoạch điện VIII. Hệ thống truyền tải này sẽ kết nối tất cả các loại hình phát điện - từ thủy điện, nhiệt điện, điện gió, điện mặt trời, điện hạt nhân v.v tới người sử dụng.
Việt Nam đang cân nhắc xây một số đường dây truyền tải điện HVDC, tương tự đường dây HVAC nhưng để truyền tải điện bằng dòng điện một chiều (DC) [3]. Theo đó, dòng điện xoay chiều sản xuất ra sẽ được "nắn" thành dòng điện một chiều, sau đó truyền đi. Ở điểm tiếp nhận, dòng điện một chiều được "nắn" trở lại thành dòng xoay chiều thông qua một bộ chuyển đổi, từ đó có được dòng điện xoay chiều mà các thiết bị điện có thể sử dụng.
Mặc dù đắt hơn từ 25-40%, nhưng công nghệ truyền tải HVDC cho phép dòng điện được truyền đi xa hơn với tỷ lệ tổn thất điện trên đường dây thấp hơn so với công nghệ HVAC truyền thống [1].
Theo Cẩm nang 2026, chi phí đầu tư của hệ thống HVDC đem lại lợi thế cạnh tranh so với hệ thống HVAC ở khoảng cách truyền tải từ khoảng 700 km trở lên đối với mức công suất lớn (2.000MW) và khoảng 500 km trở lên đối với mức công suất cực lớn (5.000MW).
Quy mô đường dây tải điện khổng lồ này một lần nữa khẳng định bài toán năng lượng hiện nay của Việt Nam không chỉ là công nghệ phát điện, mà còn là khả năng huy động vốn và triển khai hạ tầng ở cấp quốc gia.
Vận chuyển Hydrogen: Bài toán logistics mới
Không chỉ điện, các công nghệ năng lượng mới như hydrogen xanh cũng đối mặt thách thức tương tự.
So với xăng dầu – vốn đã có hạ tầng tối ưu hóa qua nhiều thập kỷ – hydrogen hiện đòi hỏi gần như xây dựng mới toàn bộ chuỗi logistics.
Dù công nghệ hydrogen còn mới, Việt Nam đã xuất hiện khoảng 3-5 dự án (chủ yếu là hydrogen xanh, được sản xuất bằng cách dùng điện tái tạo) đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, nghiên cứu khả thi hoặc thử nghiệm. Các dự án đều hướng tới công suất hàng chục nghìn tấn mỗi năm, sớm nhất sẽ ra sản phẩm vào năm 2028. Điều này đặt ra nhu cầu vận tải nhiên liệu khổng lồ cho nền kinh tế nội địa hoặc phục vụ xuất khẩu.
Hydrogen được xem là một lựa chọn tiềm năng cho xe hơi, xe tải và tàu biển, với vai trò tương tự nhiên liệu hóa thạch nhưng sạch hơn nhờ không phát thải CO2 trong quá trình sử dụng.
Khủng hoảng tại eo biển Hormuz năm 2026 làm gián đoạn nghiêm trọng nguồn cung dầu và khí đốt toàn cầu, trở thành chất xúc tác thúc đẩy nhiều nền kinh tế tăng tốc tìm kiếm nhiên liệu thay thế, trong đó có hydrogen.
Vận chuyển ammonia bằng xe bồn tại Việt Nam. Ảnh: Vietchem.
Theo Cẩm nang 2026, chi phí vận chuyển hydrogen ở Việt Nam sẽ giao động từ khoảng 2.600 - 53.000 đồng/kg cho quãng đường 100 km. Chi phí này cao hơn nhiều so với nhiên liệu hóa thạch truyền thống, vốn đã được khai thác trong nhiều thập kỷ, hoàn tất khấu hao hạ tầng và tối ưu hóa về vận hành.
Có bốn hình thức vận chuyển hydrogen được đề xuất cho Việt Nam là đường ống, tàu thủy, xe tải, tàu hỏa.
Rẻ nhất là vận chuyển đường sắt (5.000 - 13.000 đồng/kg), nhưng sẽ cần tàu hỏa và các trạm trung chuyển chuyên dụng. Nếu vận chuyển đường bộ bằng xe tải (dạng nén và hóa lỏng) như xăng dầu hiện nay, con số sẽ rơi vào khoảng 15.000 - 20.000 đồng/kg. Đường thủy và đường ống chỉ mang lại hiệu quả cao nếu khối lượng hydrogen cực lớn và khoảng cách vận chuyển rất xa.
Do đặc tính nhẹ dễ cháy, hydrogen thường được vận chuyển dưới dạng khí nén hoặc được làm lạnh sâu để hóa lỏng. Quá trình vận chuyển và lưu trữ hydrogen đòi hỏi hạ tầng chuyên biệt, đặc biệt là các kho chứa đạt tiêu chuẩn an toàn cao.
Để giảm chi phí, gần đây đã có những nghiên cứu chuyên sâu nhằm đánh giá việc sử dụng chất mang (tức các chất có khả năng liên kết với nhiều nguyên tử hydrogen) như một giải pháp tối ưu cho lưu trữ và vận chuyển hydrogen. Chất mang giúp hydrogen ổn định hơn, dễ lưu trữ và vận chuyển bằng nhiều phương thức với chi phí và rủi ro thấp hơn so với vận chuyển hydrogen nguyên chất. Các chất mang này có thể tái sử dụng nhiều lần hoặc lưu trữ vô thời hạn trong điều kiện khô ráo.
Những thách thức trong khâu vận tải cho thấy, sản xuất được hydrogen mới chỉ là điểm khởi đầu. Vận chuyển hiệu quả, an toàn và chi phí phải chăng mới quyết định khả năng thương mại hóa thành công của loại nhiên liệu sạch này.
Vận chuyển nhiên liệu hạt nhân: Tuân thủ an toàn
Hiện nay, vận chuyển nhiên liệu hạt nhân tại Việt Nam chưa triển khai ở quy mô thương mại, nhưng các tiêu chuẩn và quy định quốc tế đã được nghiên cứu làm cơ sở cho phát triển nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận trong tương lai (2030-2035).
Vì nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận dự tính có công suất điện 4000 MW, sử dụng nhiên liệu chính là uranium làm giàu ở mức thấp (U-235) do Nga cung cấp [6], nên theo kinh nghiệm quốc tế, sẽ cần khoảng 100-120 tấn nhiên liệu uranium mỗi năm, tương ứng với 800-1.000 tấn nhiên liệu thô tự nhiên (bánh vàng).
Các container chứa nhiên liệu hạt nhân tại nhà máy tái chế nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng PO Mayak ở thị trấn Ozersk, Nga. Ảnh: Alamy.
Với hạt nhân, an toàn là ưu tiên số một. Trước khi uranium được sử dụng trong lò phản ứng, vật liệu này không phát ra bức xạ nguy hiểm. Do vậy, chúng có thể được vận chuyển dễ dàng trong các thùng phuy thép lớn, có khả năng chịu được nhiệt độ và áp suất cao.
Tuy nhiên, vận chuyển chất thải hạt nhân lại là câu chuyện khác. Tùy theo mức độ phóng xạ mà chất thải hạt nhân cần đến các dạng thùng bằng thép, chì, được che chắn bức xạ và dùng xe chuyên dụng.
Vì chưa đủ dữ liệu nên Cẩm nang 2026 không vạch ra chi phí cho loại hình vận tải năng lượng này ở Việt Nam. Việc vận chuyển nhiên liệu hạt nhân cần tuân thủ chặt chẽ các quy định kiểm soát và an toàn của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA. Mỗi năm có khoảng 20 triệu chuyến vận chuyển vật liệu phóng xạ trên toàn thế giới.
--
Tài liệu tham khảo:
[1] EAV & DEA (2026), "Cẩm nang Công nghệ Sản xuất điện Việt Nam năm 2026". Chương trình hợp tác đối tác Viêt Nam - Đan Mạch.
[2] Ngô Hà, (2024), "Phát triển năng lượng tái tạo: Thách thức từ lưới điện", Tia Sáng.
[3] Thanh Hương, (2026), "Hai đường dây truyền tải điện một chiều siêu cao áp sẽ vận hành năm 2031", Báo Đầu tư,