Nội với sông Hồng (khu vực Chương Dương)ảnh Nguyễn Thanh Sơn- 2007 |
Có phải vì lý do Hà Nội nhận thấy nhiều thành phố ven sông trên thế giới đều gắn mình vào dòng sông lấy đó là hình ảnh đặc trưng, tạo ấn tượng của đô thị, hay là muốn khai thác quỹ đất để phát triển, hoặc muốn gần gũi, chia sẻ, thân thiện với tự nhiên và cũng có thể muốn lập kỳ tích như sông Hàn ở Hàn Quốc...tất cả đều có thể. Nhưng chắc chắn đây là dự án đa mục tiêu có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ hội cho việc phát triển sông Hồng và Thủ đô Hà Nội ổn định và cải thiện cuộc sống cho hàng chục vạn dân.
Do lịch sử để lại, vùng ven sông Hồng đoạn qua Hà Nội đang chứa đựng nhiều mâu thuẫn và những vấn đề dân sinh bức xúc: tình trạng gia tăng dân số cũng như mật độ công trình xây dựng không được quy hoạch gây cản trở thoát lũ, ô nhiễm môi trường, cảnh quan kiến trúc manh mún, lộn xộn tạo nên sự ngăn cách giữa Thành phố với Dòng sông, đời sống người dân bị đe doạ, ảnh hưởng nặng nề khi mùa lũ tới, quỹ đất chưa được khai thác sử dụng có hiệu quả... và thật là thiếu sót nếu không nhắc đến lịch sử đó, vì ngày nay những khiếm khuyết thường được bao biện vì lý do lịch sử, đó chính là lịch sử của Dòng sông, Con đê và Thành phố.
![]() Con đê, thành phố và sông Hồngvới trận lụt năm 1926- nguồn tư liệu |
Một hệ thống đê đã ra đời, luôn được gia cố như muốn chống lại khắc nghiệt của tự nhiên, muốn chinh phục, khuất phục thiên nhiên để bảo vệ thành phố. Lịch sử đã ghi nhận những sự kiện đó: Năm 1109 đắp đê ngăn nước sông ở phường Cơ Xá 2 Năm 1192 cho xây một quãng đê bằng đá để chống nước lụt sông Hồng 3. Tuy vậy đến cuối thế kỷ XIX, các tuyến đê vẫn chưa đủ độ cao và độ vững chắc để ngăn được những cơn lũ cao nhất. Những khiếm khuyết lớn về kết cấu của đê cùng với xu hướng ngày càng dâng cao của mực nước sông đã khiến cho nhiều đoạn đê thường xuyên bị vỡ khi gió mùa tràn về 4. Trong khi đó mặt nền Thành phố trung bình chỉ nằm ở cao độ 6m, tức là còn dưới mực nước sông Hồng ở thời điểm cao nhất, đỉnh lũ có thể đạt tới 12m, do vậy con đê có nhiệm vụ gắn với sự sống còn của Thành phố ngày càng lớn lao. Đến những năm đầu thế kỷ XX con đê vẫn còn thấp, đứng từ đường Trần Nhật Duật, đường Trần Quang Khải ven sông có thể phóng tầm mắt nhìn sông Hồng, Dòng sông lúc đó gần và cận kề với trung tâm Thành phố. Chính sự đe doạ của Dòng sông với Thành phố đã hối thúc quyền Thống sứ Bắc Kỳ ra Nghị định ngày 15/10/1909 về việc xây một bức tường dọc đê sông Hồng 5, nhưng mãi tới năm 1928, sau một trận lụt lịch sử, mới có một chương trình cải tạo về mặt kỹ thuật được áp dụng cho mạng lưới đê, theo đó chúng được gia cố thêm và nâng cao lên 14m 6. Và cũng từ đây, Dòng sông đã ngày càng rời xa Thành phố, bãi bồi ngày càng lớn lên và hình ảnh Dòng sông dần khuất sau con đê. Rõ ràng lúc này ngoài nhiệm vụ bảo vệ Thành phố, con đê đã vô tình chia cắt Thành phố với Dòng sông.
![]() Đầu thế kỷ XX từ đường đê có thểnhìn thấy sông Hồng kề sát- TL |
![]() Trung tâm Hà Nội với sông Hồng liềnkề ảnh chụp từ máy bay năm 1931- TL |
Lúc này, dường như sông Hồng chỉ đóng vai trò vận chuyển nước đi qua Thành phố, còn Hà Nội thì như muốn tránh mặt Dòng sông.
Giải quyết những vấn đề phức tạp, bức xúc này đòi hỏi nguồn lực to lớn và những nghiên cứu quy hoạch tổng hợp được thực hiện bởi các chuyên gia nhiều kinh nghiệm của trong nước và quốc tế. Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của Dự án quy hoạch cơ bản phát triển khu vực sông Hồng đoạn qua Hà Nội là vô cùng cần thiết.
Đây là dự án hợp tác giữa Thành phố Hà Nội và Thành phố Seoul (Hàn Quốc) với quy mô lớn. Dự án có phạm vi nghiên cứu dọc hai bên bờ sông Hồng đoạn qua Hà Nội, với chiều dài gần 40km đi qua 5 quận, 4 huyện với diện tích khoảng 10.500 ha và có khoảng 17 vạn dân cư trú ngoài bãi. Theo đề xuất của dự án tuyến đê hai bên bờ sông Hồng sẽ được củng cố, nâng cao khả năng chống lũ đồng thời điều chỉnh tuyến, mở rộng lòng sông ở một số đoạn để tạo dòng chảy hợp lý, tăng cường khả năng thoát lũ, hạ thấp mực nước. Kết hợp với tuyến đê sẽ là các trục giao thông lớn dọc sông, tuyến vận tải thuỷ trên sông được cải tạo, kết hợp chặt chẽ với hệ thống giao thông đường bộ.
Lúc này, dường như sông Hồng chỉ đóng vai trò vận chuyển nước đi qua Thành phố, còn Hà Nội thì như muốn tránh mặt Dòng sông.
![]() Khu cư trú ngoài bãi ngày càng dày thêmsự cách biệt của Thành phố với Dòng sông ảnh Nguyễn Thanh Sơn - 2007 |
Dư luận thời gian qua ngoài việc tán đồng một số đề xuất của dự án còn không ít những ý kiến băn khoăn về sự chất tải của dự án nên đô thị hiện hữu vốn đã dở dang của Hà Nội, hoài nghi về hướng phát triển đô thị, hay lo ngại về tính khả thi cũng như sự xáo trộn lớn đến cư dân nơi đây...Không dám luận bàn về vấn đề chỉnh trị sông Hồng, nhưng về phương án quy hoạch và phát triển đô thị ven sông tôi nhận thấy còn có một số vấn đề cần trao đổi. Đó là sự GẮN KẾT, HÀI HOÀ giữa đô thị ven sông với đô thị hiện hữu, trung tâm thành phố và các trung tâm tương lai Tây hồ Tây, Bắc sông Hồng; giữa mới và cũ; giữa bảo tồn và phát triển, sự sâu chuỗi, tích hợp giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của Thành phố và Dòng sông trên cả phương diện vật thể và phi vật thể để khẳng định vị thế và bản sắc của đô thị Hà Nội.
Mô tả hình ảnh sông nước của Hà Nội, tìm hiểu vai trò thầm lặng của nó, nhưng lại là trung tâm bản sắc đô thị của thành phố đặc thù này11 nhưng những dãy nhà cao tầng sắp hàng đều đặn ở dẻo đất mỏng manh giữa hồ Tây và sông Hồng thuộc khu vực 2 hữu ngạn của dự án với chức năng là khu phức hợp quốc tế công nghệ cao, cư trú cao cấp, công viên đô thị liệu có cần biết bên cạnh đó có các làng Yên Phụ, Nghi Tàm, Quảng Bá...nổi tiếng ven hồ Tây và bên tả ngạn là Thành Cổ Loa lịch sử? Sự gắn kết giữa sông, hồ, cây xanh, văn hoá và công trình chẳng nhẽ lại cơ học như vậy?
![]() Phối cảnh khu vực 2 hữu ngạn, nguồn:Dự án quy hoạch cơ bản phát triển sông Hồng- 2007 |
![]() Cảnh Thăng Long thế kỷ XVII nhìn từsông Hồng- Tranh vẽ của người Việt Nam đương thời (Trong sách của Baron) – TL |
---------
1. Pierre Clément và Nathalie Lancret –Hà Nội chu kỳ của những đổi thay hình thái kiến trúc và đô thị – Nxb Khoa học và Kỹ thuật, 2003, tr31
2. Việt Sử thông giám cương mục Chính biên – T4- Nxb Văn Sử Địa – 1958.-Chb 4,6
3. Việt Sử lược – Nxb Sử học – 1958, quyển IV- tr 12
4. P. Gourou, Les paysansdu delta tonkinois, Viện Viễn đông bác cổ, 1936, tr36
5. Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Cục Lưu trữ nhà nước – Lịch sử Hà Nội qua tài liệu lưu trữ tập I- Nxb Văn hoá- Thông tin, 2000.
6. Pierre Clément và Nathalie Lancret –Sđd, tr36,37.
7. Ngoại trừ Cổ Loa đã có từ trước.
8. Bên bờ Đông sông Hồng, trông sang Kinh thành, làm nơi tiếp đón sứ giả nước ngoài (1044) – Trần Huy Liệu- Lịch sử thủ đô Hà Nội- Nxb Sử học, 1960, tr25
9. Hàng năm cứ mùa thu, trên khúc sông Hồng trước mặt Kinh thành, các vua chúa thường tổ chức thi bơi thuyền rất lớn – Trần Huy Liệu, Sđd
10. Cụ thể năm1937-1938 Đốc lý Hà Nội đã ban hành các quyết định về ranh giới các làng ở bãi sông Hồng, về lập lại tổ chức hành chính ở khu vực bãi, lập sơ đồ các con đường vào làng Nghĩa Dũng, Tân Ấp, Phúc Xá Hạ, sơ đồ mặt bằng các làng ở bãi sông Hồng - Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Cục Lưu trữ nhà nước, Sđd
11. Christian Pédelahore de Loddis – Hà Nội và hình ảnh sông nước – Tạp chí Xưa&Nay số 99-2001,tr26.
12. Christian Pédelahore de Loddis- Sđd, tr26
KTS. Nguyễn Thanh Sơn






