![]() |
. |
Năm 2012, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) đã cho Công ty liên doanh nước ngoài Lifepro vay 70 triệu USD, với tài sản thế chấp là quyền sử dụng sáu nhãn hiệu của công ty này. Khi Lifepro không thể thanh toán khoản vay, Agribank đã tiến hành xử lý tài sản thế chấp. Lúc này, họ mới phát hiện ra sáu nhãn hiệu trên được Lifepro nhận li xăng (chuyển nhượng quyền sử dụng) từ công ty thời trang FGF Industrial Spa của Ý, chứ Lifepro không phải là chủ sở hữu. Do vậy, Agribank không thể xử lý được quyền sử dụng sáu nhãn hiệu này. Vụ việc gây xôn xao dư luận một thời, đặt ra câu hỏi tại sao những tài sản không có thật như vậy lại được dùng để thế chấp vay đến cả nghìn tỷ đồng.
Vụ thế chấp hy hữu này là một trong những trường hợp điển hình cho thấy những vướng mắc về thế chấp tài sản trí tuệ ở Việt Nam. "Hợp đồng thế chấp giữa Agribank với Công ty liên doanh Lifepro Việt Nam xác định tài sản thế chấp là sáu nhãn hiệu thương mại là không chính xác bởi vi phạm điều kiện bên thế chấp - Công ty Liên doanh Lifepro Việt Nam không phải là chủ sở hữu tài sản thế chấp. Việc định giá quyền sử dụng sáu nhãn hiệu thương mại của FGF Industry Spa đủ điều kiện làm tài sản bảo đảm cho khoản vay 70 triệu USD cũng là điều không hợp lý", TS. Nguyễn Hoàng Long ở Trường ĐH Luật Hà Nội, phân tích trong luận án tiến sĩ về thế chấp quyền tài sản ở Việt Nam.1 "Kết quả này đến từ quy trình thẩm định, đánh giá, trình duyệt khoản vay, quản lý rủi ro của Agribank là vô cùng lỏng lẻo, tạo kẽ hở cho cán bộ làm sai nhằm mục đích trục lợi".
Tiềm năng còn bỏ ngỏ
Thực ra, việc sử dụng các tài sản trí tuệ như sáng chế, nhãn hiệu... làm tài sản đảm bảo để vay vốn ngân hàng là một trong những phương thức khai thác tài sản trí tuệ phổ biến trên thế giới. Chẳng hạn ở Mỹ, số lượng bằng sáng chế được dùng làm tài sản thế chấp đã tăng gần 10.000 bằng sáng chế vào năm 1995 lên gấp năm lần vào năm 2013, gần 50.000 bằng sáng chế. Xu hướng tương tự cũng diễn ra ở Trung Quốc,hoạt động cho vay thế chấp bằng sáng chế và nhãn hiệu đang phát triển mạnh, đạt gần 500 tỷ nhân dân tệ vào năm 2022. Các loại hình cho vay này tăng trưởng đều đặn từ năm 2016-2022 với tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt gần 30%. Trong ba quý đầu năm 2023, hoạt động cho vay thế chấp bằng sáng chế và nhãn hiệu ở nước này đạt 495 tỷ nhân dân tệ, tăng hơn 50% so với cùng kỳ năm trước. "Thế chấp tài sản trí tuệ ngày càng trở nên có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp trong quá trình tiếp cận nguồn vốn vay, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như các doanh nghiệp khởi nghiệp", TS. Hoàng Lan Phương ở trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn (ĐHQGHN), nhận xét.2 "Do có ít tài sản cố định có giá trị nên các doanh nghiệp này rất khó để tiếp cận nguồn vốn vay truyền thống từ phía các ngân hàng và thường phải chấp nhận vay với giá cao, nên nếu tài sản trí tuệ được sử dụng làm tài sản đảm bảo cho các khoản vay tại ngân hàng sẽ là một giải pháp tìm vốn thay thế".
Chẳng cần đến khi giá trị của tài sản trí tuệ cũng như tài sản vô hình được chứng minh ngày càng chiếm phần quan trọng như hiện nay - theo báo cáo của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), trước năm 1980, tài sản hữu hình chiếm 80% giá trị doanh nghiệp, nhưng chỉ sau 30 năm, giá trị tài sản hữu hình chỉ còn 20%, thậm chí là thấp hơn, hoạt động thế chấp tài sản trí tuệ đã xuất hiện khá sớm. Từ thế kỷ 19, Thomas Edison đã sử dụng bằng sáng chế về bóng đèn sợi đốt làm tài sản thế chấp để vay vốn thành lập Công ty General Electric - giờ đây đã trở thành tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng trên toàn cầu. "Với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tài sản trí tuệ có thể là tài sản có giá trị nhất mà họ sở hữu, thậm chí vượt xa tài sản hữu hình. Việc chấp nhận tài sản trí tuệ làm tài sản thế chấp sẽ mở ra một kênh huy động vốn quan trọng cho các doanh nghiệp này, giúp họ có nguồn lực tài chính để phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh", luật sư Nguyễn Vũ Quân và các cộng sự ở Kenfox IP & Law Office, nhận xét trong một bài viết trên Lexology.3
Những doanh nghiệp nhỏ không phải là đối tượng duy nhất quan tâm đến phương thức vay vốn này. Thế chấp tài sản trí tuệ cũng là "phao cứu sinh" của nhiều doanh nghiệp lớn khi lâm vào tình trạng khó khăn. Theo một báo cáo của Liên đoàn công nghiệp Ấn Độ và Công ty quản lý đầu tư Duff & Phelps, các doanh nghiệp lớn thường thế chấp tài sản trí tuệ khi gặp khó khăn hoặc có nguy cơ phá sản. Chẳng hạn như tập đoàn Xerox đã phải thế chấp các bằng sáng chế khi gặp vấn đề liên quan đến gian lận tài chính vào năm 2002. Một trong những hãng sản xuất ô tô lớn nhất thế giới General Motors cũng từng phải thế chấp bằng sáng chế của mình trong hai năm khi đứng trước nguy cơ phá sản vào năm 2009. Kodak - một trong những công ty sản xuất thiết bị nhiếp ảnh hàng đầu thế giới, đã phải nộp đơn xin phá sản vào năm 2012. Để cứu vãn tình hình, Kodak đã bán hơn 1000 bằng sáng chế để vay hơn 500 triệu USD. Với số tiền huy động được cùng nỗ lực tái cấu trúc, Kodak đã thoát khỏi nguy cơ phá sản sau đó một năm.
Để mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, Việt Nam cũng ban hành một số quy định nhằm "mở đường" cho hoạt động thế chấp tài sản trí tuệ. Chẳng hạn Bộ luật Dân sự năm 2015quy định tài sản trí tuệ là một loại quyền tài sản. "Nguyên tắc cơ bản của luật dân sự Việt Nam là thừa nhận quyền tự do định đoạt tài sản của chủ sở hữu. Do đó, theo logic pháp lý, quyền tài sản (bao gồm quyền sở hữu trí tuệ) có thể được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, tức là làm tài sản thế chấp", luật sư Nguyễn Vũ Quân phân tích. Một nội dung đáng chú ý khác về thế chấp tài sản trí tuệ nằm ở Nghị định 21 quy định thi hành Bộ luật Dân sự về đảm bảo nghĩa vụ (Nghị định 21/2021/NĐ-CP), khẳng định "quyền tài sản phát sinh từ quyền sở hữu trí tuệ, quyền khác trị giá được bằng tiền phát sinh từ quyền sở hữu trí tuệ" là một loại tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. "Đây là một bước tiến quan trọng, chính thức hóa việc tài sản trí tuệ có thể được sử dụng làm tài sản thế chấp trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam", luật sư Nguyễn Vũ Quân nhận xét.4
Dù đã được chứng minh là loại tài sản giá trị gấp nhiều lần tài sản hữu hình song các ngân hàng Việt Nam không mấy "mặn mà" với tài sản trí tuệ. "Để có thể vay vốn bằng việc thế chấp tài sản trí tuệ tại các ngân hàng ở Việt Nam là điều không dễ dàng", TS. Hoàng Lan Phương cho biết.5 Đặc biệt là sau những vụ bê bối như trường hợp cho vay thế chấp sáu nhãn hiệu giữa Agribank và Lifepro, các ngân hàng đều lo ngại những rủi ro tiềm ẩn của tài sản trí tuệ lớn hơn nhiều so với tài sản cố định. Do vậy, các ngân hàng thương mại thường nhận thế chấp quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm dự phòng bên cạnh việc nhận thế chấp tài sản hữu hình khác để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ.
Những vướng mắc chờ được tháo gỡ
Sự lo ngại rủi ro trong thế chấp tài sản trí tuệ xuất phát từ những "khoảng trống pháp lý" của Việt Nam. "Dù Bộ luật Dân sự 2015 và Nghị định 21 đã tạo cơ sở pháp lý, nhưng hệ thống pháp luật hiện hành vẫn còn thiếu các quy định chi tiết và quy trình cụ thể, gây khó khăn cho việc triển khai trên thực tế", luật sư Nguyễn Vũ Quân phân tích.6 "Các văn bản hiện nay đều chưa quy định rõ về quy trình, thủ tục đăng ký thế chấp tài sản trí tuệ một cách rõ ràng, minh bạch. Chưa có quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp tài sản trí tuệ trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, cũng như còn thiếu cơ chế xử lý tài sản trí tuệ thế chấp một cách hiệu quả và bảo đảm quyền lợi các bên khi có vi phạm nghĩa vụ". Chẳng hạn như trường hợp thế chấp sáu nhãn hiệu giữa Lifepro và Agribank, bên nhận thế chấp đã không xác định rõ quyền sở hữu tài sản trí tuệ trước khi nhận thế chấp. Tất nhiên, một phần nguyên nhân nằm ở sự thiếu thận trọng và những vấn đề nội bộ của Agribank, song không thể phủ nhận, những "khoảng trống pháp lý" khiến các bên phải tự "mò mẫm", dẫn đến gia tăng nguy cơ "vấp ngã" trong quá trình thế chấp tài sản trí tuệ.
Một rào cản lớn khác là định giá tài sản trí tuệ - bài toán quen thuộc thường được nhắc đến trong các hội thảo về thương mại hóa tài sản trí tuệ. "Hiện nay, các ngân hàng thương mại Việt Nam đang cho vay dựa trên định giá tài sản đảm bảo làm căn cứ xác định mức cho vay. Nếu không xác định được giá trị tài sản đảm bảo thì các ngân hàng sẽ không có căn cứ để xác định được giới hạn cho vay tối đa theo giá trị tài sản đảm bảo", TS. Trần Thị Thu Hường, nhận xét trong một bài viết trên Tạp chí Khoa học & Đào tạo ngân hàng.7 Tuy nhiên, "rất khó định giá tài sản trí tuệ do tài sản trí tuệ thường là tài sản đứng một mình, không có tài sản tương đương trên thị trường, do vậy cũng rất khó xác định được tỷ lệ chiết khấu đối với tài sản trí tuệ. Điều này sẽ là trở ngại lớn nhất của các ngân hàng thương mại Việt Nam".
Các phương pháp định giá hiện nay cũng rất khó áp dụng với tài sản trí tuệ bởi tính chất đặc biệt của loại tài sản này. Giá trị của tài sản trí tuệ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như công nghệ, thời hạn bảo hộ, độ nhận diện thương hiệu, uy tín, niềm tin của người tiêu dùng... "Việc các đối thủ cạnh tranh thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ như làm hàng giả, hàng nhái cũng có thể làm giảm sút uy tín cũng như giá trị của tài sản trí tuệ đang được thế chấp", TS. Hoàng Lan Phương cho biết.8 "Sự không ổn định về giá trị của tài sản trí tuệ bởi những yếu tố như trên sẽ gây ảnh hưởng đến việc định giá tài sản trí tuệ khi thế chấp cũng như có thể gây rủi ro cho bên nhận thế chấp khi xử lý tài sản trí tuệ để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ".
Có thể thấy, con đường biến tài sản trí tuệ thành tiền - thông qua hoạt động thế chấp ở Việt Nam vẫn còn khá gập ghềnh. Việc gỡ bỏ những rào cản là một hành trình đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên, và không thể hoàn thành trong "một sớm, một chiều".Song song với việc chờ đợi những thay đổi chính sách từ phía nhà nước, các ngân hàng và doanh nghiệp cũng cần chủ động tìm ra giải pháp cho riêng mình. "Cán bộ tín dụng phải cập nhật nhanh chóng với thị trường tài sản trí tuệ, cũng như cách xác định giá trị tài sản trí tuệ cho mục đích đảm bảo cho vay phù hợp với thị trường cho vay của Việt Nam và sự an toàn của ngân hàng", TS. Trần Thị Thu Hường nhận xét.9 "Một cách khác giúp ngân hàng có thể thực hiện được công tác định giá tài sản trí tuệ là ký hợp đồng thuê ngoài với bên thứ ba để thuê mua dịch vụ này. Bên thứ ba sẽ phân tích, đánh giá minh bạch giá trị tài sản trí tuệ, giải trình rõ ràng, ký xác nhận, chịu trách nhiệm về công tác thẩm định đối với ngân hàng".
Bài đăng KH&PT số 1346 (số 22/2025)
Chú thích:
[1] Xem thêm "Thế chấp quyền tài sản theo quy định của pháp luật Việt Nam", Nguyễn Hoàng Long, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2023.
[2], [5], [8] Hoàng Lan Phương, "Thế chấp tài sản trí tuệ - Những khía cạnh pháp lý và thực tiễn thi hành", Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, năm 2021.
[3], [4], [6] Nguyễn Vũ Quân, Đỗ Thị Phấn, Đào Thị Thúy Nga, Xem thêm "Thế Chấp Tài Sản Trí Tuệ - Nhãn Hiệu tại Việt Nam: Phân Tích Pháp Lý và Triển Vọng Thị Trường", Lexology, năm 2025.
[7], [9] Trần Thị Thu Hường, "Cho vay dựa trên tài sản đảm bảo là tài sản trí tuệ - Cơ hội, thách thức cho các ngân hàng thương mại Việt Nam", Tạp chí Khoa học & Đào tạo ngân hàng, năm 2016.
Thanh An
