![]() Kiến trúc đình, chùa |
![]() Kiến trúc nhà vườn |
Thiên nhiên luân hồi và đời người ngắn ngủi sinh ra cảm thức về cái vô nghĩa, dẫn đến những không gian trống rỗng, không sử dụng vào mục đích gì rõ rệt. Đặc biệt là các loại kiến trúc đình: giang đình, phương đình, viên đình, kiều đình, dịch đình, trạm đình, biên đình hoàn toàn là kiến trúc bỏ ngỏ cho người trú chân, đi chơi, lơ lửng ven sông, ven đường, vườn hoa, nơi thâm sơn cùng cốc. Nhà không có tường, mặt bằng vuông, chữ nhật, bát giác hoặc tròn, bốn bề chỉ là để hóng gió. Kiến trúc đền thờ cũng có nhiều không gian hư vô như vậy: cổng trụ, tường ngăn thấp, bình phong... phân cắt với những vườn cảnh tạo ra những không gian thay đổi, nhiều bề, nhiều hướng, có tính gia trưởng, còn khu vực sử dụng không có mấy (điển hình là Văn Miếu). Không gian hư vô đặc biệt hệ thống trong kiến trúc chùa (kiểu nội công ngoại quốc). Hệ thống này đương nhiên vẫn có trục xuyên tâm và phát triển các lớp ngang kiến trúc trên trục xuyên tâm gây cảm giác đi mãi, đi sâu không cùng, mở ra nhiều hướng làm cho ngôi chùa có vẻ lớn hơn thực thể của nó, không phân biệt trong ngoài là đâu, bắt đầu từ đâu và kết thúc từ đâu.
![]() Kiến trúc nhà vườn |
Phân khoảng trong chuỗi kiến trúc này có thưa có dày không đều đặn, nhưng mang tính liên tục, rồi dồn lên ở những đỉnh cao (như gác chuông và tháp). Trong nội thất, hành lang được mở thông với tiền đường và hậu đường, các nhà khác trong nội chùa mở các cửa ngách thông ra tất cả các lối ngang, còn phía chính diện trên trục đăng đối thường dùng cửa bức bàn (có tính chất giới hạn giả tưởng, nửa kín nửa hở). Giữa hai nếp nhà (theo kiểu trùng thiềm điệp ốc), hai giọt gianh của hai mái gần khít với nhau, đôi khi chênh về độ cao, để mở ánh sáng vào trong, tạo ra khoảng không gian nghỉ - một kiểu vườn cảnh. Chiều cao mở rộng trong tiền đường với những tượng lớn, thu hẹp ở chính điện do ban thờ Phật dày đặc tượng kéo lên sát mái. Phép kích thích thị giác sân khấu được vận dụng. Cái gì ở gần phóng thật to (tượng Hộ pháp), cái gì ở xa thu thật nhỏ (tượng Tam thế), làm cho không gian hẹp có vẻ sâu rộng hơn.
Hệ thống điêu khắc làm thay đổi hoàn toàn không gian trong chùa, khiến cho không thể quan niệm một thiền viện mà không có tượng Phật. Không gian bên trong là không gian của điêu khắc, cho điêu khắc và sinh ra bởi điêu khắc. Các tượng Phật dù cá lẻ hay trong tập hợp có chung một xu hướng ngôn ngữ, hoặc vài loại bút pháp nhưng định hướng chung với ý nghĩa lớn của toàn bộ hệ thống. Kích thước cao thấp, to nhỏ, tượng đứng hay ngồi, trên bệ thờ cao thấp ngắm nhìn đâu cũng thấy hết hệ thống, cũng như thấy từng cá thể. ánh sáng là yếu tố quan trọng trong hệ thống này. ở những nơi ít tượng, nhiều ánh sáng, không gian rộng bề mặt tượng được làm nhiều chi tiết (Hộ pháp, Kim cương). ở nơi nhiều tượng, ít ánh sáng, không gian chật, ngôn ngữ tượng trở nên đơn giản, bề mặt thoáng, khối lớn, thần thái được tô vẽ sao cho toát lên cái tĩnh lặng, thiêng liêng. Tất cả đều được sơn thếp vàng son. Các hòa sắc đen, vàng, son và nâu gỗ mộc là màu chủ đạo. ánh sáng nội thất cũng mang màu sắc này. Trong hương khói, trong tiếng mõ gõ đều, trong tiếng cầu kinh, ánh sáng Thiền hòa nhập Phật tử và Phật tượng là một, thống nhất cái cá thể hữu hạn trong cái thời gian vô cùng, vô hạn. Việc tạo những nội thất tối, chỉ có ánh sáng vàng son phản quang từ đồ thờ và tượng Phật không chỉ định hướng bởi ý tưởng tôn giáo, mà còn phù hợp với tính chất kỹ thuật sơn thếp trong điêu khắc cổ, sơn ta khô và bền trong khí hậu khô và nóng. Ngôi chùa là nơi di dưỡng cả tinh thần lẫn thể chất con người, do đó nó được tính toán cẩn thận, phía ngoài và tổng thể phù hợp với phong thủy, ngoảnh về hướng Đông Nam, có núi án núi chầu, có tả long hữu hổ, có sông tụ thủy trước mặt. Trong thì đủ các yếu tố âm dương, ngũ hành, có núi, có nước, có rỗng có đặc, có kim khí, cây cỏ, đồ gỗ, hương nhang, giếng nước, hồ nhân tạo, đất đai, đá, gốm - tức là đủ ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ), những thành phần cấu tạo nên thế giới, hỗ trợ cho tâm, can, tỳ, phế, thận trong con người. Về mọi mặt ngôi chùa là toàn thiện, dưỡng sinh, định thần, gây niềm hoan lạc trong bể dâu chìm nổi. Khi tụng kinh, tọa Thiền, người ta có những giây phút nhất định đạt đến sự trống rỗng và điểm sâu nhất của tinh thần sẽ hòa tan cái cá nhân vào vũ trụ, nối liền cái thân thể của mình với vật chất xung quanh, hay nói một cách dân dã hơn là có thể lấy năng lượng của vật chất xung quanh hỗ trợ cho vật chất trong cơ thể mình, nhưng ý nghĩa lớn là hiểu mình để hiểu thế giới.
Yếu tố hư vô trống rỗng được nhấn mạnh thành đặc trưng không gian và ánh sáng trong chùa. Chữ hư vô, trống rỗng là một cách tạm hiểu không chính xác khái niệm "không". "Không" vừa là tất cả, vừa không là gì cả, là hiện hữu nhất thời và tuyệt đối không hiện hữu. Khái niệm này về căn bản không để giải thích, không để hiểu, mà chỉ cảm nhận. Ví dụ một bàn tay Phật, ngón cái và ngón giữa co lại thành vòng tròn, ba ngón kia xòe ra. Đây là từ "không" sinh ra thiên - địa - nhân. Một cửa sổ khi cưa chấn song, người ra nhặt phần bỏ đi làm chấn song, ghép lại với nhau, thì khoảng rỗng sẽ có hình chấn song. Đây chính "không" là "sắc", "sắc" là "không" vậy. ánh sáng nhìn từ trong nhà ra ngoài là một trong những cảm quan quan trọng. Từ nội thất nhìn ra ngoài vườn, qua cửa tò vò trong thì tối, ngoài thì sáng, sao cho cắt cảnh hiện lên như một bức tranh. Nhìn những song cửa tròn và vuông, nửa sáng nửa tối cảm thức được cái không cái có luân chuyển trong cuộc sống. Bản thân cuộc sống cũng chỉ là ảo ảnh, mà Nguyễn Du gọi là "Kiếp phù sinh như hình bào ảnh (cái bong bóng nước). Của phù sinh có có không không". Mọi phân bố không gian khác, rộng hẹp, nông sâu, cao thấp cũng không ngoài ý nghĩa này, một ý nghĩa triết lý về tồn tại, nhiều hơn sự sùng bái tôn giáo. Tam quan trống rỗng với Không quan, Trung quan và Giả quan, ta đi vào và đi ra, trong hay ngoài cũng vậy. Gác chuông hai tầng, tám mái hứng gió bốn mùa, gõ một tiếng chuông tạo ra âm thanh, âm thanh chính là cái có rồi quay trở về cái không. Tiền đường trống rỗng, hành lang trống rỗng. Các cửa mở đóng khoan nhặt đi đâu cũng đẹp, cũng phong phú, nhưng đi đâu cũng là hư tịch cả.
Khác với nhà hát và nhà thờ cấu tạo như một hộp âm, kiến trúc chùa do quá nhiều khoảng trống, không có khả năng tạo hộp âm như vậy. Nhưng nó chú trọng đến tính phối hợp âm với năm thanh kim - mộc - thủy - hỏa - thổ do bài trí đồ tế tự theo ngũ hành. Khi đọc bài cúng cháo (rằm tháng 7) chẳng hạn, người ta sử dụng 5 người đọc 5 giọng, mỗi người một câu. Ngũ âm do 8 nhạc khí hình thành, phối hợp với nhau là đủ một buổi hành lễ không quá lớn. ở Phủ Giày, khi nhiều giá lên đồng được tiến hành cùng một lúc, vào từng khu vực nghe vẫn rõ, do cách dùng đồ thờ, đồ mã và dàn người quây quanh tạo ra các phân khu âm thanh riêng biệt. Địa lý phong thủy, triết học âm dương, ngũ hành là nền tảng khoa học của kiến trúc cổ, nó không được biểu hiện bằng bất kỳ hình thức đo lường nào, mà bằng sự tuân thủ theo hệ thống đặt con người vào trong tự nhiên, như hòa giọt nước vào biển cả, giọt nước sẽ là vĩnh viễn.


