Không biết quý anh chị, những người có cơ duyên đứng trên bục giảng, nhất là các giảng viên tại các trường cao đẳng, đại học trong vài năm trở lại đây có nhận ra một hiện tượng thú vị, xen lẫn chút bối rối mới xuất hiện gần đây hay không? Đó là một nghịch lý đang diễn ra hàng ngày: các sản phẩm học tập của sinh viên - từ những bài thuyết trình trên lớp, các tiểu luận, niên luận cho đến cả khóa luận tốt nghiệp - bỗng nhiên có chất lượng tốt hơn hẳn, hình thức chỉn chu hơn, nội dung đồng đều và sắc sảo hơn; thế nhưng, nếu chúng ta lật lại vấn đề, hỏi sâu thêm một tầng, hỏi kỹ lại các khái niệm then chốt, thì các em lúng túng. Các em không thể tự mình giải thích, không thể luận giải mạch lạc, không thể bảo vệ quan điểm và thậm chí, đáng buồn thay, là không thể tìm lại được chính xác những nội dung cốt lõi mà mình vừa dõng dạc thuyết trình trong chính sản phẩm mang tên mình. Thật! Đó là một thực tế đang hiện hữu mà có lẽ bất kỳ ai trực tiếp giảng dạy lúc này đều ngậm ngùi suy nghĩ.
Hiện tượng này không còn là cá biệt, mà đã trở thành một dạng "bình thường mới" trong môi trường học thuật. Giờ đây, cầm trên tay những bản thảo sạch sẽ không tì vết, tôi lại cảm thấy một sự trống rỗng đến khó tả. Sự bất thường này buộc tôi phải nghiêm túc nhìn nhận lại cách mà tri thức đang được tạo ra và tiêu thụ trong kỷ nguyên số.
Không phải là gian lận nhưng ...
Lúc đầu, khi mới đối diện với những bài luận hoàn hảo đến mức đáng ngờ này, phản xạ tự nhiên của những người làm nghề giáo là nghi ngờ. Phải chăng các em đạo văn? Không! Các công cụ quét đạo văn hiện đại nhất cũng câm lặng và trả về kết quả an toàn tuyệt đối. Phải chăng các em đã quay lại con đường cũ rích là thuê mướn người học hộ, làm hộ, thi hộ, hay mua bài của các "lò" viết thuê như tình trạng nhức nhối của cả chục năm trước? Cũng không. Dù dịch vụ đó vẫn tồn tại, nhưng nó không thể tạo ra một sự đồng đều và đại trà trên quy mô lớn đến như vậy trong hầu hết các lớp học.
Dưới thời của các mô hình ngôn ngữ lớn, các em không còn cần phải tự mình cặm cụi trong thư viện, không cần phải chật vật lật từng trang sách để tự đọc, tự đối thoại với tác giả. Trích tranh "The bookworm" (Con mọt sách) của Carl Spitzweg vẽ năm 1851. Nguồn: wikicommons
Tôi bắt đầu hồ nghi, và rồi ngày càng thấy rõ ràng hơn: Những gì chúng ta đang chứng kiến chính là hậu quả tất yếu, là mặt trái của tấm huy chương mang tên sự phát triển và ứng dụng bùng nổ của Trí tuệ nhân tạo (AI) tạo sinh. Các mô hình ngôn ngữ lớn đã thâm nhập vào giảng đường nhanh hơn bất kỳ chính sách giáo dục nào. AI đã trở thành một người trợ lý cần mẫn, một "bộ não ngoại vi" đắc lực, giúp các em sinh viên tạo ra các sản phẩm học thuật có chất lượng tốt, văn phong mượt mà, cấu trúc chặt chẽ, trích dẫn đâu ra đấy. Và điều đáng kinh ngạc nhất là, để đạt được kết quả xuất sắc ấy, các em chỉ cần bỏ ra một lượng kiến thức nền tảng và kỹ năng tư duy ở mức tối thiểu.
Sự can thiệp của công nghệ đã làm thay đổi hoàn toàn phương thức làm việc của một sinh viên. Các em không còn cần phải tự mình cặm cụi trong thư viện, không cần phải chật vật lật từng trang sách để tự đọc, tự đối thoại với tác giả, tự vò đầu bứt tai để suy nghĩ về một góc nhìn mới, và tất nhiên, không còn cần phải nhọc nhằn gõ từng con chữ để tự viết ra những suy nghiệm của chính mình nữa!
Cuộc chơi học thuật giờ đây đã chuyển sang một hệ sinh thái khác. Các em giờ chỉ cần biết phân loại và nắm bắt các công cụ: ứng dụng AI nào chuyên dùng để tổng hợp tài liệu? Nền tảng nào làm tốt việc dịch thuật thuật ngữ chuyên ngành? Trợ lý ảo nào giỏi trong việc định dạng văn bản và trích dẫn tự động? Và vũ khí tối thượng nhất của thế hệ sinh viên hiện nay chính là khả năng viết các câu lệnh (prompt).
Chỉ cần biết cách ra lệnh tốt nhất, mớm lời khéo léo nhất, AI sẽ lập tức nhả ra một sản phẩm tốt đều, sẵn sàng để nộp cho giảng viên. Người học đã từ bỏ vai trò của một "tác giả" (author) để khoác lên mình tấm áo của một "người điều phối" hay "kỹ sư câu lệnh".
Đọc, nghĩ, viết: Sự đứt gãy của một chuỗi nhận thức căn bản
Nếu như những hồ nghi của tôi là đúng - và ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy nó đang hiện diện một cách trần trụi - thì có lẽ, chúng ta cũng không thể đơn thuần đổ lỗi hay trách cứ các em sinh viên được. Đó là một hệ quả tự nhiên, một phản ứng tất yếu của con người trước sự phát triển vũ bão về khoa học công nghệ. Bản tính của con người là luôn tìm kiếm con đường ngắn nhất, ít tiêu hao nguồn lực khan hiếm nhất để đạt được mục tiêu. Khi công cụ đã quá sẵn sàng và tiện lợi, việc từ chối sử dụng chúng đôi khi lại bị xem là tụt hậu.
Tuy nhiên, sự tiện lợi này mang theo một cái giá phải trả quá đắt về mặt nhận thức. Đọc, nghĩ và viết chưa bao giờ là ba hành động rời rạc; chúng là một chuỗi nhận thức gắn kết chặt chẽ, bồi đắp và định hình nên trí tuệ của một con người.
Viết chính là cách chúng ta tư duy. Ảnh: Pexel
Khi chúng ta tự đọc, đặc biệt là đọc những văn bản phức tạp, những bản án đa chiều hay những học thuyết pháp lý đan xen giữa các hệ thống pháp luật khác nhau, đó cũng là lúc chúng ta đang trải nghiệm. Chúng ta phải giải mã từ ngữ, liên kết các khái niệm, đối chiếu với những gì mình đã biết và hoài nghi những gì tác giả đang khẳng định. Đó là một quá trình đầy vật vã nhưng đó là lúc tri thức thực sự ngấm vào tư duy. AI hiện nay có thể tóm tắt một tài liệu dài cả trăm trang thành năm gạch đầu dòng trong ba giây. Sinh viên nắm được nội dung chính, nhưng các em đã vĩnh viễn mất đi cơ hội được trải nghiệm sự vật vã của việc cọ xát với văn bản. Các em có thông tin, nhưng không có tri thức.
Tiếp đến là tự nghĩ. Tư duy không tự nhiên sinh ra từ khoảng không. Nó được nảy mầm từ những mâu thuẫn, những điểm mờ mà ta bắt gặp trong quá trình đọc. Nghĩ là quá trình nhào nặn lại thông tin, phân tích đúng sai, tự đặt ra các giả thuyết và tự tìm cách phản biện lại chúng. Khi AI "nghĩ hộ", đưa ra sẵn các quan điểm đa chiều một cách vô hồn nhưng trơn tru, não bộ của người học dần rơi vào trạng thái "thối não" ("brain rot") êm ái. "Tôi tư duy nhưng tôi không còn tồn tại".
Và cuối cùng, tự viết. Viết không bao giờ chỉ đơn thuần là hành động chép lại những gì đã nghĩ trong đầu. Viết chính là cách chúng ta tư duy. Rất nhiều lần, chỉ khi bắt tay vào cấu trúc một câu văn, cố gắng diễn đạt một ý tưởng, ta mới giật mình nhận ra tư duy của mình còn đầy những lỗ hổng, lỏng lẻo và khiếm khuyết. Việc vật lộn với ngôn từ để tìm ra cách diễn đạt chính xác nhất chính là quá trình rèn giũa tư duy trở nên sắc bén và logic. Bằng cách nhường lại khâu viết cho AI, sinh viên đã vô tình tước đoạt đi của chính mình cơ hội cuối cùng để kiểm chứng và mài giũa trí tuệ. Những sản phẩm in ra dẫu đẹp đẽ đến đâu cũng chỉ là những lớp vỏ ngôn từ rỗng ruột, bởi tinh thần của người viết không hề hiện diện trong đó.
Nghịch lý của sự bình đẳng và bóng dáng của "Thế hệ cuối cùng"
Ở một khía cạnh nào đó, nếu nhìn bằng một con mắt bao dung và mang tính biện chứng hơn thì sự phát triển và can thiệp của công nghệ là hiện tượng duy vật luôn xuất hiện trong lịch sử nhân loại. Có vẻ lần này với AI, nó còn giúp chúng ta sớm đạt được một mục tiêu mang tính không tưởng của giáo dục đại trà: bình đẳng về kết quả. Nhờ có AI, dường như ai cũng như ai về mặt kết quả học tập. Khoảng cách giữa một sinh viên xuất sắc, có năng lực tư duy nhạy bén và một sinh viên có học lực trung bình bị xóa nhòa bởi một bộ lọc chung. Tất cả đều đệ trình những bài làm đạt mức điểm 7, điểm 8 một cách dễ dàng. Một sự trung bình chủ nghĩa đang bao trùm lên giảng đường, nơi cái dở tệ không còn xuất hiện, nhưng cái xuất chúng mang dấu ấn cá nhân rực rỡ cũng đồng thời suy giảm mạnh. Chúng ta đang có một thế hệ những người tạo ra sản phẩm hoàn hảo, nhưng bản thân họ lại là những cỗ máy tư duy đang han gỉ.
Chiêm nghiệm về sự thay đổi mang tính thời đại này, nó làm tôi bất giác giật mình nhận ra một sự thật có phần vừa thú vị lại vừa khó chịu: Có khi những người thuộc thế hệ 8x chúng tôi, hoặc những người sinh ra ở thế hệ 9x lại chính là thế hệ cuối cùng còn biết cách tự đọc, tự nghĩ và tự viết một cách trọn vẹn!
Chúng tôi là những người lớn lên trong giai đoạn giao thời, học tập và làm việc chủ yếu qua việc tự đọc, tự nghĩ và tự viết. Chúng tôi đủ trẻ để thích ứng với công nghệ, nhưng cũng đủ già để từng trải qua thời kỳ phải đi xe đến thư viện, lần mò mượn từng cuốn sách, hí hoáy chép tay những đoạn trích hay, và thức trắng đêm với những bản nháp gạch xóa chằng chịt trước khi có được một bài luận hoàn chỉnh. Cảm giác đắm chìm vào tĩnh tại để theo đuổi một luồng tư tưởng, cảm giác bất lực khi bí từ, và niềm sung sướng khi tìm được một lối diễn đạt đắt giá – dường như đang trở thành những di sản xa xỉ trong thời đại của các thuật toán tạo sinh.
Cảm giác chìm đắm vào tĩnh tại để theo đuổi luồng tư duy trong thư viện dường như đang trở thành những di sản xa xỉ trong thời đại của các thuật toán tạo sinh. Ảnh: Pexel
Nhìn nhận một cách tích cực, việc là "thế hệ cuối cùng" trải qua những nhọc nhằn đó cũng là một đặc ân đáng để tự hào và ghi nhớ! Chúng tôi đã được rèn luyện bộ não của mình bằng phương pháp thủ công và khắc nghiệt nhất, để xây dựng nên một nền tảng tư duy độc lập mà không một cỗ máy nào có thể xâm phạm. Tôi đã hình dung ra một viễn cảnh có chút giễu nhại trong một tương lai không xa, khi tôi ngồi bên hiên nhà và một câu chuyện với con cháu, với những thế hệ Alpha, Beta bắt đầu bằng một giọng điệu đầy tự hào hoài cổ: "Ngày xưa ông đã từng tự mình đọc từ đầu đến cuối hết quyển sách dày cộp này đấy" trong ánh mắt vừa ngạc nhiên xen lẫn thương hại của con cháu tôi. Chúng sẽ thắc mắc tại sao ông bà mình lại chọn một cách sống khổ sở, lãng phí thời gian và phi hiệu quả đến thế, khi mà chỉ cần một câu lệnh mất 3 giây là có thể tóm tắt và viết ra một thứ có vẻ hay hơn gấp vạn lần?
Một sự phân tầng giai cấp mới trong kỷ nguyên AI?
Từ câu chuyện trên bục giảng, tầm nhìn của tôi phóng chiếu xa hơn về tương lai của thị trường lao động trí óc và tổ chức xã hội loài người. Đã từng có những thời kỳ con người phân chia giai tầng dựa trên tài sản, dòng máu, hay quyền lực chính trị. Nhưng với đà tiến lên không thể đảo ngược của công nghệ hiện nay, có khi rồi đến lúc con người lại phân chia thành các giai tầng hoàn toàn mới, dựa trên cách họ sử dụng và bảo vệ năng lực tư duy của chính mình. Có thể không? Liệu sẽ đến một ngày, xã hội định hình một giai tầng bao gồm những "người tự đọc, tự nghĩ, tự viết": những kẻ cổ hủ, bảo thủ, chống lại sự tiến bộ vì chọn con đường thủ công để bảo tồn tính nguyên bản của tư duy; những gã hâm hấp, gàn dở giữa một thế giới đang chạy với tốc độ ánh sáng. Họ là những nghệ nhân cuối cùng của tư duy thuần túy, cố gắng giữ lại ngọn lửa của tính người trong từng nét chữ, từng luận điểm độc lập của mình.
Và phần còn lại của thế giới - đại đa số nhân loại - sẽ thuộc về một giai tầng khác: những người gắn chặt với AI. Họ là những người nhanh nhẹn, giàu có, tạo ra khối lượng của cải vật chất và sản phẩm thông tin khổng lồ nhờ biết cách khai thác tối đa sức mạnh của AI. Thế nhưng, sâu thẳm bên trong, họ có thể đang tự biến mình thành những "bộ não rỗng", những người công nhân bấm nút vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, chỉ đóng vai trò truyền đạt lệnh giữa các hệ thống máy móc. Họ sở hữu mọi thứ công cụ tiên tiến nhất, nhưng lại cùn mòn đi thứ vũ khí nguyên thủy và mạnh mẽ nhất của loài người: khả năng tự tư duy và tự kiến tạo ngôn ngữ.
Thế hệ cuối cùng đã điểm. Những bản khóa luận hoàn hảo trên giảng đường hôm nay chỉ là tiếng chuông báo hiệu đầu tiên. Câu hỏi đặt ra không còn là làm sao để ngăn cấm sinh viên dùng AI – bởi đó là hành vi đi ngược lại sự tiến bộ. Câu hỏi sinh tử lúc này đối với những người làm giáo dục là: Làm thế nào để trong một thế giới mà máy móc đã có thể làm xuất sắc mọi việc từ đọc, nghĩ đến viết, con người vẫn tìm thấy lý do và động lực để tiếp tục giữ lại những nhọc nhằn đầy vinh quang của việc tự tư duy? Nếu không trả lời được, giảng đường của chúng ta sẽ chỉ còn là những dây chuyền sản xuất ra những con người hoàn hảo nhưng vô hồn, đánh dấu sự kết thúc êm ái của một kỷ nguyên tri thức do chính con người tự tay kiến tạo.
Tranh Sorrowing Old Man của Van Gogh. Nguồn: Wikicommons
Vỹ thanh
Tôi có đặc ân được lên lớp với các bạn sinh viên ngay từ những ngày đầu tiên ngồi trên giảng đường đại học luật qua môn học Luật La Mã. Tôi thường bắt đầu khóa học của mình trong buổi học đầu tiên bằng cách trích dẫn một phát biểu huyền thoại trong tác phẩm Digest của Corpus Juris Civilis; Tổng tập pháp luật dân sự La Mã, tác phẩm đặt nền móng cho đa số các hệ thống pháp luật hiện đại ngày này để khơi gợi và kích thích sự tò mò của các bạn sinh viên:
"Những ai dốc tâm nghiên cứu luật học, trước tiên, tất phải tường tri cội nguồn phát sinh của nền học thuật này. Pháp luật đắc danh từ công lý; bởi lẽ (như lời biện thuyết thanh nhã của Celsus), pháp luật chính là nghệ thuật thấu đạt điều thiện hảo và lẽ công bình.
Nhân thế tôn xưng chúng ta là những bậc tư tế (hay linh mục) của nghệ thuật này cũng thực xác đáng, bởi lẽ chúng ta dốc lòng phụng sự công lý và tuyên xưng sự hiểu biết những điều thiện hảo và lẽ công bình, phân định rạch ròi lẽ thị phi, và minh thị khu biệt ranh giới giữa điều hợp pháp với phi pháp; bởi chúng ta không chỉ muốn giáo hóa nhân quần hướng thiện thông qua nỗi sợ hình phạt, mà còn bằng cả sự tưởng thưởng khích lệ; nhằm hướng tới (nếu ta không lầm bạt) một nền triết học chân chính, chứ tuyệt nhiên không phải một thứ ngụy triết."