
Một tiết địa lý ứng dụng phương pháp dạy học theo dự án của Trường THPT Trần Khai Nguyên (Tp.HCM). Các em sẽ chia thành các nhóm Quỹ dân số Liên hiệp quốc, Hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, Ủy ban văn hóa giáo dục thanh thiếu niên nhi đồng,... để thảo luận về chủ đề "Dân số và phát triển bền vững". Ảnh: Trường THPT Trần Khai Nguyên.
Thời đại mới, vấn đề cũ
Quá trình toàn cầu hóa còn ảnh hưởng đến giáo dục. Học sinh là một phần của mạng xã hội và mạng lưới kinh tế, các em không còn bị giới hạn trong cộng đồng địa phương và quốc gia nơi mình sinh sống. Điều này mở ra cho các em những triển vọng học tập và phương thức tương tác mới. Học sinh có thể giao tiếp dễ dàng với những cá nhân có bối cảnh, kinh nghiệm và niềm tin khác với họ, và như thế trường học không phải lúc nào cũng có thể bảo vệ các em trước những luồng quan điểm nhập nhằng và đối nghịch, những niềm tin và hành vi mù quáng. Cùng với đó, khi quá trình hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của chúng ta, nhà trường cần trang bị cho các em các kỹ năng và tri thức cần thiết, vượt ra khỏi các hoạt động và lối sống địa phương.
Tuy nhiên, bất chấp toàn cầu hóa và sự xuất hiện của công nghệ mới, nhiều khía cạnh cơ bản nhất của giáo dục vẫn phải giữ nguyên, nhất là trong lĩnh vực khoa học xã hội. Các vấn đề xã hội mà con người đang phải đối mặt ngày nay có thể đã và đang diễn ra dưới một hình thức mới, nhưng suy cho cùng, chúng chẳng khác gì các cuộc đấu tranh của loài người trong suốt lịch sử: Một nhóm người hoặc quốc gia bóc lột một nhóm người hoặc quốc gia khác, và những người bị áp bức thường nổi dậy đấu tranh, có thể thành công hoặc thất bại. Người dân, các nhóm và các quốc gia tranh chấp nguồn tài nguyên và quyền lực, họ thường kéo dân chúng vào những cuộc xung đột này, đôi khi kết quả thật tàn khốc. Loài người còn khai thác môi trường để phục vụ cho mục đích của mình, biến đổi nó – theo cách tiêu cực và ngoài ý muốn. Vì xung đột, nghèo đói, hoặc môi trường thay đổi, người dân phải di cư đến những vùng đất, và ở đó họ phải đối mặt với những thách thức. Ngoài ra, nhiều người bị tước đoạt quyền con người, như an ninh, giáo dục, quyền tự do ngôn luận, hoặc một cuộc sống ấm no, trong khi những người khác đấu tranh để giải quyết những thiếu sót này – với tư cách cá nhân, nhóm hay tổ chức chính trị, và nhiều người khác ngăn cản họ trên con đường đấu tranh ấy. Những hiện tượng xã hội này sẽ không biến mất, chúng chỉ khoác lên mình một lớp áo mới mà thôi.
Lòng trắc ẩn và lòng nhân từ nảy mầm khi một người thực sự quan tâm đến hoàn cảnh của người khác – đồng cảm với nỗi đau và vui mừng cho thành công của mọi người, chứ không phải là một sản phẩm mà các nhà giáo dục cần phải tạo ra.
Lòng trắc ẩn
Lòng trắc ẩn và lòng nhân từ nảy mầm khi một người thực sự quan tâm đến hoàn cảnh của người khác – đồng cảm với nỗi đau và vui mừng cho thành công của mọi người, chứ không phải là một sản phẩm mà các nhà giáo dục cần phải tạo ra. Dường như chúng là bản năng, vì các nhà triết học đã nhận ra từ lâu và các nghiên cứu gần đây đã xác nhận quan điểm này là chính xác. Đây là điều mà nhà Nho, nhà tư tưởng Mạnh Tử gọi là một "trái tim biết thương xót" hay một "trái tim không nỡ làm hại người" (不忍人之心 – bất nhẫn nhân chi tâm). Nhưng các nhà triết học còn chỉ ra rằng những cảm xúc này nảy sinh rất tự nhiên trong chúng ta, dành cho tất cả mọi người, trong mọi tình huống. Sự quan tâm càng sâu sắc hơn khi đối tượng là những người gần gũi với ta, và do đó, cảm xúc bản năng của chúng ta đơn giản là "hạt mầm" của lòng nhân từ, theo Mạnh Tử. Để hoàn thiện bản thân, chúng ta cần mở rộng cánh cửa trái tim mình đến nhiều người hơn nữa.
Và nhiệm vụ đầu tiên của giáo dục, đó là giúp học sinh mở rộng lòng nhân ái và sự trắc ẩn trong tim mình đến những người dù không cùng thời hay cách xa ta về địa lý. Để làm được điều đó, cần hiểu rõ về hoàn cảnh sống, cách chiến tranh, biến đổi khí hậu, làn sóng di cư... tác động đến đời sống của họ. Đây chính là điểm mà công nghệ kỹ thuật số có thể hỗ trợ cho các nhà giáo dục. Công nghệ trao cho học sinh phương tiện để các em không chỉ đọc, mà còn nhìn thấy và lắng nghe những câu chuyện và trải nghiệm của mọi người ở các địa điểm xa xôi, thường là dưới những hình thức sinh động, đầy hấp dẫn.

Học sinh trường Olympia đến thăm các trẻ em mồ côi tại chùa Đức Sơn (Huế) và xây dựng công trình phụ cho trường tiểu học Xuân Lộc tại tỉnh này. Hoạt động nhằm khơi gợi trong các em sự sẻ chia, từ đó đề xuất những phương án giải quyết vấn đề. Ảnh: theolympiaschools.
Thấu hiểu các quan điểm khác nhau
Khoa học xã hội sẽ góp phần giải quyết điều này; trên thực tế, một trong những lợi thế quan trọng của lịch sử, địa lý và các môn khoa học xã hội khác chính là khả năng giúp học sinh hình dung đời sống của loài người ở những địa điểm và thời gian khác nhau. Và một lần nữa, nỗ lực này càng trở nên khả thi hơn với sự phát triển của công nghệ số hiện nay: học sinh thực sự có thể lắng nghe quan điểm của mọi người về những vấn đề ảnh hưởng đến họ, giải pháp nào theo họ là phù hợp nhất. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở việc thấu hiểu những người xa lạ; mà việc lắng nghe quan điểm của người dân nơi các em sinh sống cũng có thể hình thành trong các em ý tưởng giải quyết các vấn đề ở địa phương, trong khu vực, và những vùng đất khác. Suy cho cùng, học sinh phải hiểu được tầm quan trọng của việc lắng nghe – đó như là một bản hướng dẫn hành động. Trong tiếng Hán, chữ hiền nhân (聖 – thánh) bao gồm bộ khẩu (miệng) và bộ nhĩ (tai), hàm ý rằng người khôn ngoan hoặc người trị vì đừng chỉ nói mà còn phải biết lắng nghe.
Khoa học xã hội phải trang bị cho học sinh những kỹ năng và kiến thức cần thiết, để các em có thể cùng nhau chịu trách nhiệm về tương lai của chính mình.
Đã có nhiều nghiên cứu về tác động của cá nhân và chính phủ trước các vấn đề này được thực hiện, góp phần nâng cao khả năng đánh giá của học sinh về những biện pháp trong tương lai. Các quốc gia đã phản ứng như thế nào trước làn sóng di cư, biến đổi khí hậu, nội chiến, v.v.. và những phản ứng này đã mang lại điều gì? Những thông tin kiểu như vậy đầy rẫy trên Internet, và việc sử dụng những thông tin này đúng cách đòi hỏi học sinh không chỉ có khả năng đặt nghi vấn mà còn biết tìm kiếm câu trả lời, đánh giá độ tin cậy và hữu ích của những dữ liệu họ tìm được, từ đó rút ra kết luận hỗ trợ nguồn thông tin đã có trong tay.
Quan trọng là học sinh phải nhận ra rằng lòng nhân từ, sự lắng nghe và sự khôn ngoan thực tiễn đều phụ thuộc vào kiến thức có được. Tuy nhiên, các nhà giáo dục cũng phải nhận ra rằng kiến thức không phải là hàng hóa để thu gom; cái thời mà học sinh phải nhồi nhét một lượng thông tin khổng lồ đã qua. Giờ đây, kiến thức là nguồn nguyên liệu thô mà học sinh phải sử dụng để xử lý các vấn đề xã hội; họ phải tương tác với nó để khơi dậy lòng nhân từ, lắng nghe người khác và phát triển sự khôn ngoan thực tiễn. Tương tác và ghi nhớ là hai quá trình rất khác nhau, và theo một cách nào đó có vẻ như là trái ngược nhau. Trong các hình thức giáo dục cũ hơn, học sinh sẽ ghi nhớ một khối kiến thức, để một lúc nào đó trong tương lai họ sẽ rút ra sử dụng trong trường hợp cần thiết. Trong khi đó, với hướng tập trung vào các vấn đề xã hội, việc sử dụng kiến thức được đặt lên hàng đầu và nội dung chương trình giảng dạy được chọn lọc để học sinh có cơ hội vận dụng kiến thức của mình hòng giải quyết các vấn đề đó. Phương pháp này vừa đáp ứng nhu cầu của xã hội, vừa phù hợp với cách học của học sinh ngày nay.
Những nỗ lực này phải có trọng tâm cụ thể. Rất khó để định hướng học sinh mở rộng lòng nhân từ một cách chung chung, đối với tất cả vấn đề. Rốt cuộc, chúng ta đều biết rằng việc tử tế với tất cả mọi người là bất khả thi. Thay vào đó, chương trình giảng dạy phải giúp hình thành trong học sinh lòng nhân từ trước những chủ đề cụ thể, hơn là mong đợi rằng một khi các em trở nên nhân từ đối với một vấn đề xã hội, các em cũng sẽ có phản ứng tương tự đối với những vấn đề khác. Tương tự như vậy, chúng ta đừng hi vọng có thể giúp học sinh lắng nghe nhiều quan điểm một cách chung chung, hoặc có thể đánh giá thông tin một cách chính xác trong mọi vấn đề, mặc dù điều này có vẻ là một phương pháp giáo dục hấp dẫn. Một lần nữa, tất cả chúng ta đều biết không phải lúc nào các em cũng có khả năng tiếp nhận những quan điểm khác nhau, hoặc suy luận một cách logic trong mọi chủ đề. Chương trình học cần giúp học sinh tiếp cận với những quan điểm và thông tin khác nhau trong các chủ đề cụ thể, cũng như vận dụng kiến thức của mình về các vấn đề đó.
Thế giới đang thay đổi, và các trường học cũng không phải là ngoại lệ. Tuy nhiên một số khía cạnh của giáo dục vẫn sẽ khởi nguồn từ những ý tưởng đã cũ, ít nhất là từ thời Khổng Tử hoặc Aristotle. Mặc dù các nhà giáo dục dự kiến sẽ triển khai các công nghệ mới và cập nhật xu hướng mới, nhưng họ không nên bị phân tâm bởi vì đây chỉ là những phương tiện mới và bối cảnh mới, trong cuộc chiến giải quyết những vấn đề vốn vẫn tồn tại trong lịch sử từ xưa đến nay. Khoa học xã hội phải trang bị cho học sinh những kỹ năng và kiến thức cần thiết, để các em có thể cùng nhau chịu trách nhiệm về tương lai của chính mình. □
Diễn đàn 2020 nêu ra các chủ đề lớn:
1. Định nghĩa lại những mục tiêu của giáo dục cho thế kỷ 21
2. Hợp tác trong giáo dục, phát triển các ngành khoa học xã hội, gây dựng xã hội học tập
3. Dạy và học, đào tạo giáo viên, vai trò của trường học trong thời đại số hóa.
EduNet hân hạnh được cộng tác với Tia Sáng để gửi đến bạn đọc những tham luận của các diễn giả khách mời, các giáo sư đại học và các chuyên gia giáo dục. Độc giả có thể theo dõi nội dung và đăng ký tham dự trực tuyến tại đây: https://ves.sciencesconf.org/