Khi tôi được mời đến dự Diễn đàn thơ này, tôi biết rất rõ rằng: các nhà thơ Đông Á biết quá ít về nền thơ của chúng tôi. Nếu tôi không muốn nói: họ hầu như không biết gì về nền thơ ca đương đại Việt Nam. Đấy là sự thiệt thòi của không chỉ riêng các nhà thơ Việt Nam mà còn là thiệt thòi của một dân tộc. Có lẽ điều mà các bạn biết về dân tộc chúng tôi là những cuộc chiến tranh liên miên hay là một trong vài nước Cộng sản còn lại trên hành tinh này với những vấn đề của kinh tế, của tôn giáo và nhân quyền. Họ chưa biết được trong máu, trong nước mắt và trong những gánh chịu của dân tộc chúng tôi có một nền thơ của nhân cách con người, của cái đẹp và của khát vọng tự do, cho dù trong một thời gian rất dài nền thơ ấy bị lợi dụng đi ra ngoài bản chất khởi thủy của nó. Bởi thế, sự chia sẻ, sự cảm thông và sự hiểu biết về một dân tộc dù bằng cách nào mà không thông qua nền thi ca của dân tộc đó cũng là một sự thiếu hụt trầm trọng. Sự sâu thẳm của tâm hồn với những nỗi cô đơn của số phận, với những đau đớn của lương tâm và những giấc mơ lộng lẫy chỉ có thể được hiển lộ một cách chính xác nhất bằng thi ca. Bởi như J. Brodsky, nhà thơ Mỹ gốc Nga, giải Nobel Văn học, đã nói: "Thơ ca là tiếng nói tối thượng của con người".
![]() |
| Viết thư pháp trong ngày thơ ở làng Chùa |
Một sự thật là cho đến năm 2002, sau khi tập tuyển Năm nhà thơ hiện đại Hàn Quốc được xuất bản ở Việt Nam do tôi dịch và giới thiệu với sự tài trợ của Daesan Foundation thì bạn đọc Việt Nam mới có một cái nhìn sâu hơn về thơ ca hiện đại Hàn Quốc. Tập tuyển thơ này gồm năm nhà thơ Hàn Quốc : Ko Un, Kim Chi Ha, Park Je Chung, Kwang Kyu-Kim và Shin Kyung-Rim. Điều quan trọng hơn cả sau khi đọc tập thơ này không phải là những hiểu biết về sự phát triển ngôn ngữ thi ca của một dân tộc nhiều điểm văn hoá tương đồng với dân tộc Việt Nam mà là những gì dân tộc Hàn Quốc đã phải gánh chịu với nước mắt và máu, đã khát vọng, đã đứng dậy và bước đi với lòng quả cảm và giấc mơ kỳ diệu của mình và trở thành một dân tộc Hàn Quốc như bây giờ. Những câu thơ của nhà thơ lớn Ko Un viết về dân tộc Hàn Quốc trong bài Bản kinh Phật khắc trên gỗ đã làm thức tỉnh một điều gì đó thật lớn lao và thật hệ trọng trong chính tâm hồn tôi và nhiều bạn đọc Việt Nam :
Và bây giờ, hãy từ từ khép đôi mắt của người, hỡi mảnh đất Hàn Quốc
Để chìm sâu dưới nước ba trăm năm
Nếu chúng ta không làm được như vậy thì không còn con đường nào khác
Là chúng ta phải chìm xuống nước một nghìn năm.
![]() |
| Tranh: Nguyễn Quang Thiều |
![]() |
MỘT SỐ LỜI NGƯỜI LÀNG CHÙA VỀ THƠ CA VÀ CUỘC SỐNG - Vọng tự nhập xuất (Viết trên cổng làng xưa của làng Chùa ). |
Thế gian chưa bao giờ ngừng máu chảy và nỗi thù hận. Nhưng con người của thế gian mỗi ngày thêm gần nhau hơn, họ đang tạo ra một cộng đồng rộng lớn hơn với một nền văn hoá đa bản sắc và đầy tính nhân bản. Sự khác biệt về chính trị, về luật pháp hay phong tục của các dân tộc trên thế gian có thể sẽ mãi mãi còn. Nhưng sự thống nhất về tương lai của thế giới trong khát vọng và ý thức của chúng phải được đồng nhất hoá: đó là sự công bằng của con người, tính nhân bản của con người và khát vọng tốt đẹp của con người. Các chính trị gia còn rất ít người nghĩ đến điều đó một cách cụ thể, nhưng các nhà thơ đã và đang làm điều đó một cách bền bỉ từ khi thơ ca xuất hiện trong thế giới loài người. Kể cả khi các nền thơ ca chưa được ký tự hoá bằng chữ viết của dân tộc họ và cả khi một nền thi ca nào đó bị đàn áp bởi các Nhà nước độc tài.
Thơ ca các nước Đông Á là một phần thơ ca của nền văn hoá phương Đông. Sự huyền diệu của nền văn hoá này nói chung và sự huyền diệu của nền văn hoá các nước Đông Á đang càng ngày càng lan toả trong một thế giới quá nhiều lý trí và bị hệ thống hành chính của đời sống hậu hiện đại công nghiệp làm cho thô cứng. Cái tận cùng của lý trí nhiều lúc quá thô thiển sẽ là sự đổ vỡ tâm lý và làm giới hạn con mắt thứ ba của con người. Bởi đời sống, kể cả trong cái chết và sự bất động trong một hình thức nào đó, cũng luôn luôn là sự vô tận chứa đựng và luôn luôn mở ra những bí ẩn kỳ diệu. Tôi chưa biết nhiều đến thơ Hàn Quốc ngoài một số tác phẩm của 5 nhà thơ Hàn Quốc mà tôi đã đọc và đã dịch. Nhưng những gì tôi đọc được đã cho tôi nhận thấy con đường của nhân loại trong những tác phẩm thơ ca đó. Xuyên qua máu chảy, xuyên nước mắt, xuyên qua những dị biệt và sự thù hận và xuyên qua chủ nghĩa vật chất của đời sống hiện đại là con đường của những vẻ đẹp tinh tế và những tư tưởng thẳm sâu, đôi khi nó mơ hồ như sự mở cánh của những bông hoa trong giá lạnh ở ngoại ô Seoul mà Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một người Việt Nam chúng tôi, đã nhìn thấy trong những bài thơ Thiền của nhà thơ Ko Un. Và thế giới, tôi thấy, không có cách nào cảm nhận được con đường thực sự của nhân loại bằng cách cảm nhận đó. Và thơ Đông Á nói riêng đã và đang cho thế giới một cách cảm nhận về con đường của mình. Thơ ca Đông Á nói riêng và văn hoá phương Đông nói chung đã và đang mang lại cho thế giới một sự cảm nhận cần thiết và chính xác về chính đời sống của mình và nỗi sợ hãi về sự tàn lụi của đời sống con người.
Sự giải phóng hiệu nghiệm nhất những bế tắc của đời sống con người là sự tự nở hoa trong tâm hồn của chính con người. Thơ ca là con đường dẫn con người đến sự tự nở hoa đó. Toàn cầu hoá không phải là sự thống nhất về hệ thống chính trị hay kinh tế của mọi dân tộc trên thế giới. Bởi thơ ca không bao giờ làm được điều đó. Khi thơ ca chạm vào điều đó thì bản chất của nó ngay lập tức bị huỷ diệt. Có một thời gian dài ở Việt Nam, những người kiểm duyệt luôn luôn tìm kiếm những ý đồ phản kháng trong các tác phẩm thơ của các nhà thơ Việt Nam. Và tôi đã phải nói với một số chính khách Việt Nam rằng: dù có cung cấp vũ khí và đô la cho tất cả các nhà thơ, nhà văn Việt Nam thì họ cũng không biết làm thế nào để lật đổ Chính phủ được.
Sứ mệnh của thơ ca trong toàn cầu hoá là sự lan toả của thế giới tâm linh trong mỗi con người đang sống trên thế gian này. Đó không phải là sự thống nhất tôn giáo. Nó cao hơn mọi tôn giáo. Đó là sự lan toả của vẻ đẹp huyền diệu và sự tĩnh lặng vô tận trong tâm hồn con người. Tôi muốn đưa ra một ví dụ cụ thể hơn và đơn giản hơn rất nhiều; đó là những Vườn Nhật Bản trong những gia đình ở Mỹ và một số nước châu Âu mà tôi nhìn thấy. Sách hướng dẫn làm những khu vườn như thế này được xuất bản nhiều hơn ở các nước đó. Đó không phải là một thú chơi. Đó là sự cảm nhận về cái tĩnh lặng của tâm hồn. Toàn cầu hoá là sự chia sẻ, sự hoà đồng và sự nhận thức về sự chia xẻ và hoà đồng đó.
Trong bài viết sơ lược và ngắn ngủi này, tôi không có tham vọng gì hơn là bày tỏ một phần trong sự nhận thức của mình về sứ mệnh thơ ca của từng nhà thơ, thơ ca của từng dân tộc và thơ ca của từng khu vực đối với đời sống tinh thần của nhân loại đang có quá nhiều thách thức và nguy cơ bị hoang hoá. Và qua đây, tôi cũng bày tỏ ý thức của những nhà thơ chân chính Việt Nam, một đất nước mà những ngày của hoà bình quá ít ỏi trong hơn 10 thế kỷ qua. Một đất nước đã luôn luôn tìm mọi cách loại bỏ chiến tranh và từ bỏ hận thù để mang văn hoá nói chung và thơ ca của mình nói riêng đến với con người. Nhưng nó cũng bị những thế lực phi văn hóa chống lại và nhiều lúc làm cho chảy máu.


