[1]. Sự đồng thuận này có thể được xem như là tiêu chí cho tính hiệu lực của ý tưởng, khái niệm VXH.[2]. Tính ưu việt của các hội đoàn tự nguyện giữa những người công dân tự do và bình đẳng mà Tocqueville đã nêu lên trong đoạn trên sẽ được Coleman và Putnam triển khai một cách chi tiết hơn trong lập luận của họ. Đối với Tocqueville đó chính là cơ sở của xã hội dân sự, một thành tố không thể thiếu trong nền dân chủ đang hình thành ở Mỹ, rất khác với các xã hội Châu Âu vào thời điểm đó. Còn đối với Coleman và đặc biệt đối với Putnam, thì «nghệ thuật kết nối thành hội đoàn» là phương cách để tạo nên và củng cố VXH nhằm giải quyết những vấn đề được đặt ra cho các xã hội trên mọi phương diện.[3]. Đó chính là chủ nghĩa Blair (Blairisme) mà ông Blair đã áp dụng ở Anh trong những năm cầm quyền (1997-2007). Tư duy này đã mở rộng một không gian học thuật để tìm kiếm những mô hình thay thế cho sự đối đầu giữa hai quan điểm truyền thống, trong đó VXH là một chủ đề trung tâm đặc biệt khi những yêu cầu, áp lực mới xuất hiện trong nhận thức về bản chất của sự phát triền như sự bình đẳng giữa các thành phần và giữa các giới, việc bảo vệ môi trường, sự cạn kiệt của các tài nguyên thiên nhiên chẳng hạn. Để thực thi một chính sách nhắm đến những mục tiêu đa dạng của sự phát triển, VXH, vừa là một khái niệm đa chiều kích, vừa là một phương thức tổ chức dựa trên sự dấn thân công dân đúng là một cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho chính sách trên. Trạng thái hòa hợp xã hội mà VXH vươn tới chính là mục tiêu tối hậu của chính sách này.[4]. Năm 2001, OCDE đã cho xuất bản báo cáo «[5]. Tính hữu ích của VXH không xóa bỏ tính mập mờ của khái niệm này mà buộc nhà kinh tế học phải hội nhập những yếu tố phi kinh tế vào lý luận kinh tế để phân tích hoạt động kinh tế. [6][7] Ý đồ này lại càng rõ hơn nữa khi Coleman định nghĩa VXH: «[8] Như vậy chúng ta có thể thấy trong sơ đổ mà Coleman đã đưa ra,VXH là khái niệm được dùng để kết hợp hai cấp độ, vi mô/cá nhân và vĩ mô/tổng thể vì VXH là thuộc tính của cơ cấu xã hội được tác nhân sử dụng nhằm tăng hiệu quả hành động của mình. VXH là phi vật thể, không thể chia cắt, không thể chuyển nhượng và do đó VXH không phải là sở hữu của cá nhân mà là một tài nguyên công được các cá nhân sử dụng như là một tài nguyên để thực thi những quyền lợi của bản thân.
Thường thì ta hay hiểu quan điểm của Bourdieu về vốn bao gồm bốn thành tố (vốn xã hội, vốn kinh tế, vốn văn hóa, vốn biểu tượng) như là những điều gắn liền với một cá nhân và điều này được giải thích bởi cố gắng của Bourdieu để đưa cá nhân vào lý thuyết cấu trúc kiến tạo mà ông đã xây dựng. Sơ đồ sau cho thấy được điều này:[9][10][11][12].[13] cho thấy những kết quả không nhất thiết thuận chiều với lý luận theo đó có một sự phụ thuộc lẫn nhau giữa VXH và dân chủ hay thành tựu kinh tế chẳng hạn, tức là không phải xã hội nào có một khối lượng VXH cao thì sẽ có những thành tựu kinh tế, xã hội, văn hóa cao. Sự so sánh và phê phán các nghiên cứu thực nghiệm giúp chúng ta nhận thức những vấn đề sau đây:[14]