Theo số liệu điều tra, đánh giá của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Thừa Thiên Huế, mỗi tỉnh tiêu thụ khoảng 200 tấn thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) cho các loại cây lương thực, rau màu,... Tình trạng này dẫn đến nguy cơ tồn đọng hóa chất bảo vệ thực vật trong nông sản trước và sau thu hoạch, đồng thời gây ô nhiễm môi trường. Trong khi đó, việc sử dụng nhóm chế phẩm sinh học có khả năng diệt trừ sâu bệnh và côn trùng thay thế hóa chất bảo vệ thực vật còn hạn chế.
Một số ít người dân sử dụng dược liệu trong trồng trọt chủ yếu dựa trên các kinh nghiệm dân gian như giã lấy dịch chiết tỏi, ớt,... để phun trên cây trồng trừ sâu bệnh hại. Tuy nhiên, cách làm này còn thủ công, hiệu quả chưa rõ rệt do chưa khai thác được hết các dược chất có trong cây dược liệu. Bên cạnh đó, các sản phẩm không thể bảo quản lâu và phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu theo mùa, vì vậy, không có khả năng phổ biến và ứng dụng rộng rãi cho nhiều hộ nông dân khác.
Để hướng tới nền nông nghiệp phát triển theo hướng an toàn, nhóm tác giả Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, đã thực hiện đề tài "Nghiên cứu điều chế một số chế phẩm sinh học từ các loài thực vật bản địa, có khả năng kháng sâu bệnh, thay thế hóa chất bảo vệ thực vật phục vụ sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thừa Thiên Huế".
![]() |
Từ trái qua phải: lá trầu không, vối, xoan. Ảnh: Internet |
Qua khảo sát, đánh giá, nhóm nghiên cứu nhận thấy, Thừa Thiên Huế có nhiều loài thực vật bản địa có khả năng kháng sâu bệnh hại trên cây trồng như trầu không, cỏ lào, kinh giới, xoan, vối, cỏ cứt lợn, lá lốt, hồ tiêu, dây ký ninh... Trong đó, nhóm chọn vối, trầu không, xoan để làm cao dược liệu. Đây là những cây dược liệu quen thuộc, dễ trồng, phát triển tốt, sản lượng lớn.
Cụ thể, các loại lá vối, trầu không, xoan sau khi thu hái được làm sạch, phơi, sấy khô và xay nhỏ thành bột. Sử dụng phương pháp chiết ngấm kiệt với dung môi ethanol 70%, tỷ lệ dược liệu : dung môi là 1:10, chiết trong 24 giờ, lặp lại ba lần. Dịch chiết sau khi thu hồi được loại bỏ nhựa và chất béo, rồi tiến hành loại bỏ dung môi nhằm thu được cao dược liệu hoặc tinh chất đậm đặc hơn, ở nhiệt độ dưới 60oC.
Sau khi thu được cao chiết của từng loại dược liệu, nhóm thực hiện bào chế chế phẩm sinh học sử dụng phun trên cây rau má và cây ớt. Chế phẩm gồm cao chiết lá vối, xoan, trầu không, bổ dung dịch chiết tảo lam (nhằm tăng cường sức đề kháng cho cây, kích thích sinh trưởng và bảo vệ cây khỏi tác nhân gây hại), cùng một số phụ gia khác như propyl paraben, propylene glycol,... Chế phẩm được sản xuất dưới hai dạng bột và lỏng, sử dụng cho cây rau má, cây ớt.
![]() |
Chế phẩm sinh học từ thực vật. Ảnh: NNC |
Theo nhóm nghiên cứu, rau má và ớt là cây trồng chính ở xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền. Đối với cây rau má, nhóm đã định danh được hai loài sâu gây hại chính là sâu khoang (Spodoptera litura) và sâu xanh da láng (Spodoptera exigua), gây bệnh đốm mắt cua do nấm Cercospora nicotiana và bệnh khô rìa lá do nấm Epicoccum thailandicum. Đối với cây ớt, nhóm đã định danh được hai loài sâu gây hại chính là sâu đo (Pseudoplusia includes) và rệp muội (Aphis gossypii), gây bệnh thán thư do nấm Colletotrichum siamense và bệnh héo rũ gốc mốc trắng do nấm Sclecrotium rolfsii.
Đánh giá mô hình sử dụng chế phẩm sinh học phòng trừ sâu bệnh hại và kích thích sinh trưởng trên cây ớt và cây rau má cho thấy, mô hình rau má sử dụng chế phẩm làm tăng chiều rộng lá, chiều dài cuống lá rau má, so với không sử dụng chế phẩm. Qua thử nghiệm, chế phẩm có hiệu lực phòng trừ sâu khoang tương đương với thuốc trừ sâu sinh học Catex 1.8EC trên thị trường. Trong mô hình trồng ớt, chế phẩm sinh học cũng làm tăng số cành/cây, tỷ lệ đậu hoa, đậu quả và hạn chế một số sâu bệnh hại chính trên cây ớt (sâu đo xanh, bệnh thán thư) so với ruộng không sử dụng. Năng suất các ruộng mô hình tăng khoảng 25% so với không sử dụng chế phẩm.
Đề tài của nhóm tác giả đã được Sở KH&CN Thừa Thiên Huế nghiệm thu, kết quả đạt.
Vương Hùng

