Cái tên Thương Huyền thường được các thế hệ sau nhắc đến với một niềm ngưỡng mộ lớn lao nhuốm màu cổ tích hóa. Có những bài ca gắn liền với lịch sử đất nước được cất lên trên làn sóng từ bà, người phụ nữ từng là trung tâm của rất nhiều câu chuyện văn nghệ đất nước thời kháng chiến.
Có lẽ nói theo ngôn ngữ truyền thông bây giờ, Thương Huyền chính là "ca sĩ quốc dân" đầu tiên của tân nhạc Việt Nam. Bà cũng là chim sơn ca đầu đàn của âm nhạc cách mạng. Chính bà tự thuật: "Nếu có ai hỏi tôi: Chị vào nghề hát từ bao giờ, tôi sẽ rất sung sướng trả lời: Năm khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khai sinh Tiếng nói Việt Nam trên làn sóng điện thì cũng là năm khai sinh tiếng hát của tôi." [1]
Nói theo ngôn ngữ truyền thông bây giờ, Thương Huyền chính là "ca sĩ quốc dân" đầu tiên của tân nhạc Việt Nam. Mỹ Hạnh thiết kế ảnh từ tư liệu Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, tư liệu Doãn Bằng, tư liệu Nguyễn Trương Quý
Nhưng trước khi đến với cách mạng, Thương Huyền đã vào đời từ sớm. Thương Huyền sinh năm 1925 ở Thượng Mỗ, Đan Phượng, Hà Nội. Bà là thứ ba trong một gia đình có 7 người con. Bố của bà rất mê chèo, thường dắt con gái đi xem ở các hội làng, nhiều khi nhảy cả vào chiếu chèo cầm trống. Vào lúc Thương Huyền lớn lên, phong trào âm nhạc "bài ta theo điệu Tây" nở rộ ở Hà Nội, tiếp đó là trào lưu âm nhạc cải cách, với giọng hát của Ái Liên và Kim Thoa.
Cha của bà còn mê hát ca trù và thậm chí có một người vợ lẽ là ca nương ở Thái Hà Ấp. Bà cũng sống ở đây khi ra Hà Nội. Thời điểm đó, bà đã có con đầu lòng, ở độ tuổi còn rất trẻ, và kết hôn với một người đàn ông hơn bà 19 tuổi. Ông tháo vát và có nhiều đóng góp cho công tác tài chính của nước Việt Nam vừa giành được độc lập.
Chính thời điểm then chốt này đã quyết định số phận của cô. Một người tham gia cách mạng đến thăm gia đình, thấy bà vừa hát bài Nhớ chiến khu của Đỗ Nhuận, đã mời bà đi hát phục vụ quần chúng. Thương Huyền ngay lập tức trở nên nổi bật trên sân khấu Nhà hát Lớn trong buổi khai mạc chương trình Tuần lễ Vàng và Hũ gạo cứu đói do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động, với hai ca khúc Suối mơ và Thiên Thai. Sau khi hát xong, bà đã tháo ngay khuyên tai, dây chuyền vàng bỏ vào thùng quyên góp ủng hộ chính quyền.
Bà cũng được một số nhạc sĩ tên tuổi trong Hội Khuyến nhạc như Nguyễn Văn Giệp, Nguyễn Hữu Hiếu mời đến hát ở Quán Nghệ sĩ, một phòng trà biểu diễn ca nhạc mới (tân nhạc), một trong vài nơi tụ họp các nhạc sĩ và người yêu nhạc Hà thành đương thời.
Vào lúc này, số ca sĩ hát tân nhạc đếm trên đầu ngón tay - ngoài Thương Huyền, Mai Khanh chỉ có thêm Kim Tiêu, Kim Phụng, Bùi Thị Thái (tức NSND Tuyết Mai, giọng đọc phát thanh nổi tiếng của Đài Tiếng nói Việt Nam về sau).
Chất giọng tình cảm của Thương Huyền đã tạo nên âm thanh quyến rũ của cuộc cách mạng, song hành với những khúc hùng ca là những bản nhạc trữ tình lãng mạn.
"Nặng lòng vì Thương Huyền"
Cái tên Thương Huyền từ đâu ra? Có nhiều sự truyền tụng về nghệ danh này. Có người nói nghệ danh được chính Hồ Chủ tịch đặt, thể hiện sự quan tâm của Chủ tịch nước dành cho giọng ca có sức ảnh hưởng lớn đến quần chúng, mà sau này chính nghệ sĩ đã nhắc lại qua những cuộc trả lời phỏng vấn hay tự sự trên truyền thông.
Trong khi đó, trong hồi ký, nhạc sĩ Phạm Duy kể rằng mình có can dự vào nghệ danh ấy. Bà là một nàng thơ thời kỳ đầu cho nhạc sĩ tài hoa này, khi ông mô tả "nàng có nụ cười rất phúc hậu" và ông đã "lăng xê giọng hát phái nữ hay nhất lúc đó là Thương Huyền" tại phòng trà Thiên Thai ở phố Hàng Gai khoảng cuối năm 1945 đầu năm 1946. Một trong những bài hát đầu tiên làm nên tên tuổi Thương Huyền là Trào lòng (Hữu Hiệp - Hữu Châu). Trên bản nhạc do nhà sách Ngoạn ở 110 Cầu Gỗ có ghi tên Thương Huyền trong số 8 người được tặng 20 bản đặc biệt, có chữ ký tác giả và được đánh số.
Thương Huyền thập niên 1950 với Huân chương Kháng chiến
hạng Nhất. Tư liệu Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III.
Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Thương Huyền tham gia Đoàn văn nghệ Giải phóng, theo đoàn đi biểu diễn ở nhiều nơi trên các chiến trường. Trong đoàn có các nhạc sĩ Phạm Văn Chừng, vợ chồng nhạc sĩ Văn Chung, vợ chồng họa sĩ Phạm Văn Đôn và nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim, nữ kịch sĩ Trúc Quỳnh, họa sĩ Quang Phòng, ca sĩ Mai Khanh, đồng thời có Phạm Duy, Phạm Đình Viêm tức Hoài Trung trong ban hợp ca Thăng Long sau này [2].
Sau một thời gian theo đoàn, Thương Huyền về công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam ở chiến khu Việt Bắc. Chính tại đây, Thương Huyền đã thể hiện sớm nhất những bài ca đình đám của kháng chiến: Người Hà Nội, Sông Lô, Áo mùa đông, Mơ đời chiến sĩ, Đóng nhanh lúa tốt... Thậm chí trong khi chưa kịp có những sáng tác mới thì Thương Huyền lấp sóng bằng cách lấy những bài ca dao đặt vào các làn điệu dân ca để hát luôn trên đài. Sức ảnh hưởng của Thương Huyền lớn đến độ một số bản nhạc in ở vùng tạm chiếm vẫn đề tên bà trong số những người thể hiện bài hát.
Tờ nhạc Mơ hoa của Nxb. Thế Giới in tại Hà Nội năm 1949, ghi tên Thương Huyền và Mai Khanh, hai ca sĩ đã đi kháng chiến, bên cạnh những ca sĩ khác đã từng thể hiện bài hát. Nguyên văn: Bản nhạc đã do các danh ca Ái-Liên, Thương-Huyền, Mai-Khanh,Ngọc Bảo trình bầy tại Đài phát thanh Hanoi, Saigon. Tư liệu Thư viện Quốc gia Việt Nam.
Sự mạnh mẽ và cởi mở trong tinh thần của Thương Huyền dường như làm rất nhiều văn nghệ sĩ kháng chiến lẫn các vị cầm quân xiêu đình đổ quán. Không chỉ Phạm Duy mà Nguyễn Huy Tưởng trong nhật ký của mình cũng tương tư Thương Huyền, và danh sách tương tư này còn dài, phần vì vẻ lôi cuốn bên ngoài, phần vì giọng hát trời phú. Nguyễn Huy Tưởng đã ghi lại tình cảm ấy trong nhật ký, để rồi sau này con trai ông, Nguyễn Huy Thắng, công bố trong bài viết Ca sĩ Thương Huyền và những ngày thu cách mạng (báo Tiền Phong, 31/8/2008):
"...Gặp lại nữ ca sĩ ở đất Thái Nguyên mùa đông năm 49-50, không hiểu sao trong ông lúc nào cũng đầy ắp hình ảnh Thương Huyền. Vốn quen ghi lại trạng thái tinh thần của mình, ông không thể không viết ra tình cảm rất lạ của ông đối với nàng. Khi thì "Lòng nặng Thương Huyền", khi thì "Đầu óc loạn vì Thương Huyền"... Mà xem ra, các bạn hình như cũng đoán được.
Một lần, ông giở ví ngắm ảnh Thương Huyền, Kim Lân trông thấy, tán: "Trông như Phồn Y", nhân vật trong vở kịch Lôi Vũ của Tào Ngu mà ông rất thích. Lần khác, Thương Huyền xưng hô thân mật "mình, mình" với ông, Nam Cao, Kim Lân đưa mắt nhìn nhau cười khúc khích.
Về phần mình, nữ ca sĩ cũng không giấu tình cảm đặc biệt dành cho ông, mà theo bình luận của các bạn thì, Thương Huyền thích nhất Tưởng - Diệu - Thi (Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi)."
Nhận xét về sức hấp dẫn này, TS Nguyễn Thị Minh Thái, người cháu gọi Thương Huyền là bác ruột, cho ý kiến: "Bác Huyền không đẹp nhưng có duyên ngầm kiểu đàn bà, lại hát rất hay nên các ông đều say mê. Trong số đó có GS Trần Văn Giàu, ông ấy cũng rất mê bác Huyền. Có lần ông Giàu đi công tác Trung Quốc về, bảo với bác Huyền: ‘Anh quý em đến mức phải đi mua cho đứa cháu của em một cái áo măng-tô’. Mẹ tôi đem ra mặc cho con. Cái áo măng-tô lót bông của Trung Quốc rất to và nặng, nên tôi mặc vào cứ ngã lăn kềnh ra. Cả nhà tôi lấy chuyện đó ra trêu, vì bác Huyền có nhiều người mê quá nên đứa cháu cũng được ăn theo."
Nỗi truân chuyên của tiếng hát sơn ca
Những năm tháng này, Đài Tiếng nói Việt Nam chuyển địa điểm rất nhiều lần, qua nhiều bản làng trong huyện Yên Sơn của Tuyên Quang. Cuộc sống gian khổ nơi thâm sơn cùng cốc, đã có nhân viên bỏ cơ quan trốn về Hà Nội nên để đảm bảo bí mật, cơ quan lại chuyển đến nơi mới. Cuối cùng tháng 4/1949, Đài chuyển về phát sóng ở Bản Đung, xã Công Đa của huyện. Đây là địa điểm Đài bám trụ lâu nhất, cho đến tháng 5/1953, tổ chức nhân sự lên tới gần 70 người. Bộ phận Văn nghệ tức âm nhạc do nhạc sĩ Đỗ Lạc (sau lấy bút danh Cầm Phong) phụ trách. Ban đầu, chưa có ca sĩ nữ, nên nhân viên kỹ thuật là Doãn Phú từng giả nữ, hát giọng kim, lấy tên là Thái Tiên để hát bè với các ca sĩ nam khác. Khi Thương Huyền về đài năm 1949, chương trình ca nhạc bắt đầu thành nếp với thời lượng 15 phút mỗi ngày, riêng ngày lễ, ngày Tết dài 30 phút.
Năm 1950, một biến cố lớn xảy ra với hôn nhân của Thương Huyền. Người chồng là đại tá bị kỷ luật rồi mất. Bà gửi người con gái thứ hai cho người chị kế trên mình nuôi rồi tiếp tục công tác kháng chiến. Đúng lúc này, sự có mặt của người đồng nghiệp Doãn Phú lấp khoảng trống hôn nhân của Thương Huyền.
Bà Dương Thị Ngân, phát thanh viên đầu tiên của Đài Tiếng nói Việt Nam, kể: "Khi Thương Huyền về Đài, Doãn Phú đệm đàn banjo cho Thương Huyền hát. Người đàn kẻ hát, ý hợp tâm đầu rồi nên duyên chồng vợ vào năm 1951. Đám cưới của họ được tổ chức đạm bạc mà vui vẻ tại Bản Đung. Tức cảnh, anh em có thơ rằng: Việt Bắc có chuyện lạ đời/ Chị Thái Tiên lấy nữ ca sĩ Thương Huyền/ Cũng sinh con đẻ cái đề huề như ai" [3].
Cuộc hôn nhân giữa hai người cùng cơ quan bắt đầu một sự ổn định trong cuộc đời của Thương Huyền. Bà sinh được ba người con với ông Phú, và sống ở khu tập thể Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam cho đến cuối đời. Ông Phú làm đến chức Trưởng phòng bá âm (phụ trách hệ thống thu thanh của Đài) rồi sau này là Cục phó Cục phát thanh và Truyền hình.
Vợ chồng nghệ sĩ Thương Huyền và Doãn Phú thời trung niên. Tư liệu Doãn Bằng.
Trong cuộc phỏng vấn với nhà báo-dịch giả Cao Nhị năm 1989, Thương Huyền kể khi đi viện, luôn có người chồng bên cạnh chăm sóc: "Không có anh Phú thì tôi đã chết lâu rồi. Vừa qua nằm cấp cứu bệnh viện, anh Phú bận rộn suốt vì tôi, cả ngày lẫn đêm. Nói ngọng rồi cơ mà! Bây giờ có ai yêu mến mà đến hỏi han, phỏng vẫn thì đã có anh Phú đây. Anh hiểu tôi hơn cả tôi tự hiểu về mình nữa kia..." [4]. Cao Nhị gọi một cách ví von, đây là người "gác-đờ-co" (garde corps, vệ sĩ) nhưng cũng là "gác-đờ-cơ" (garde coeur, bảo vệ trái tim) của Thương Huyền, người mà theo ông nếu Thương Huyền có mười phần công lao thì sự đóng góp của người "gác-đờ-co" này phải là hai, ba.
Việc một nữ nghệ sĩ bám trụ được ở chiến khu suốt 9 năm ròng, lại trải qua những biến cố lớn nhất của cuộc đời là một điều đặc biệt. Có lẽ chính khí chất mạnh mẽ và thiên hướng chinh phục đã khiến Thương Huyền đứng vững trước sóng gió cũng như ghi dấu ấn trong những bài hát của mình.
Sự quan tâm của chính phủ kháng chiến đối với văn nghệ sĩ là nguồn động viên khác cho một cá nhân tài năng như Thương Huyền. Gia đình bà, cho đến thời đi sơ tán tránh bom Mỹ sau này, vẫn giữ được chiếc chăn trấn thủ mà Bác Hồ tặng thời ở Việt Bắc. Thương Huyền cũng được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, một phần thưởng dành cho những cá nhân đóng góp nổi bật lúc bấy giờ.
Năm 1953, Thương Huyền về Nha Tuyên truyền và Văn nghệ với số lương tháng bằng giá 50kg gạo [5]. Tại Lớp chỉnh huấn năm 1953, ngoài các chủ đề về cải cách ruộng đất, đây là cơ hội để Thương Huyền học hỏi về hát chèo với nghệ nhân Tống Văn Ngũ (Năm Ngũ) và Trần Thị Dịu (Dịu Hương), để từ đây bà vào vai chị Tấm trong vở Chị Tấm anh Điền (Lưu Quang Thuận viết cùng Song Kim và Hàn Thế Du). Thương Huyền nhận thấy sự khác biệt của lối hát chèo với tân nhạc và rút ra kinh nghiệm cho riêng mình là cách hát cộng minh Việt Nam, tròn vành rõ chữ, vang xa, "nhàn nhã ung dung không ô ô khoe giọng như đầm hát bài ta".
Một mặt đĩa hát bài Sông Lô (Văn Cao) do Thương Huyền và Mai Khanh
thu âm tại Thượng Hải, Trung Quốc, năm 1954, Nxb. Văn nghệ phát hành.
Tư liệu Nguyễn Trương Quý
Lúc này cuộc kháng chiến đã đến giai đoạn quân đội Việt Minh giành được thế chủ động trên chiến trường Đông Dương, dẫn tới chiến dịch Điện Biên Phủ đầu năm 1954. Vào thời gian Hiệp định Geneve diễn ra, Thương Huyền cùng đội hợp xướng Hòa Bình do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước dẫn đầu sang Trung Quốc thu những đĩa hát đầu tiên của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là điều may mắn cho thế hệ sau khi được nghe những tiếng hát đi ra từ cuộc kháng chiến.
Văn Hanh, người em trai cùng mẹ duy nhất sau khi xuất ngũ cũng được Thương Huyền giới thiệu về làm ca sĩ trên Đài. Hai chị em song ca những bài hát có nhiều nét tình tứ như Tình trong lá thiếp (Phan Huỳnh Điểu), Gặp nhau dưới ánh trăng (Mặc Hy), Sao cô em chưa về (Lê Lan)... thành công đến độ con gái của Văn Hanh khi còn nhỏ thắc mắc, "sao bố hát với bác lại xưng anh gọi bác là em?"
"Đẹp và thoáng như cánh đồng lúa mượt"
Năm 1957 trong Đại hội Liên hoan Thanh niên và sinh viên lần thứ VI tổ chức tại Moskva, bà đã giành Huy chương Bạc ở cuộc thi hát dân ca quốc tế - đây cũng là lần đầu tiên một ca sĩ Việt Nam giành một giải thưởng quốc tế.
Thương Huyền (phải) và Kim Ngọc tại Moskva năm 1957, nơi bà giành Huy chương Bạc ở cuộc thi hát dân ca quốc tế. Tư liệu Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III.
Bà kể về kỷ niệm này: "Năm 1957, tôi được cử đi dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ sáu tại Mát-xcơ-va và đi trao đổi văn hóa nghệ thuật với một số nước bạn... Nếu có ai hỏi: ‘Thứ vũ khí tủ, sở trường của chị là gì?’ Tôi sẽ rất sung sướng trả lời: ‘Đó là dân ca quan họ Bắc Ninh’. Từ tấm bé tai tôi đã quen thuộc quá rồi, với những câu hát ví, cò lả, trống quân. ... Hình như không phải khi đã vào nghề, hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam rồi tôi mới làm quen với những bài hát đó. Thuộc từ thuở nào, hát từ bao giờ không biết nữa? ... Hội diễn liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ sáu ở Mat-xco-va cùng với các danh ca của hơn một trăm nước, tôi đã hát dân ca quan họ Bắc Ninh. Hát gì? Cũng ‘Tôi lý cây đa, tôi lới cây đa’." [1]
Thương Huyền (bìa phải) và Kim Ngọc cùng bạn bè quốc tế tại Moskva năm 1957. Tư liệu Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III.
Thương Huyền không chỉ hát với bản năng, kinh nghiệm mà bà còn có ý thức xây dựng cho mình một lối hát riêng nhằm phát huy sự truyền cảm của giọng ca. Mặc dù bà không chủ trương lập ra phương pháp hát có tính lý thuyết song tự thân cách hát để lại những bài học quý. Thương Huyền nhấn mạnh việc hát dân ca phải vận dụng tình cảm để hát nhưng phải giữ được bản chất trong sáng và lành mạnh. Bà đưa ra một ví dụ: "Người ơi người ở đừng về... Rất là hay nhưng chỉ cần sa đà một chút, kéo chữ ‘về’ dài thêm một chút thôi thì chất trữ tình của dân ca lập tức trở thành sướt mướt, não nùng, yếu đuối vàng vọt: thế là phản dân ca. Rộn ràng, trong sáng, phảng phất những sợi mây buồn, nhưng không ủ rũ, tựu trung vẫn lạc quan, đẹp và thoáng như cánh đồng lúa mượt. Tôi hiểu và thể nghiệm dân ca là như vậy". [...] Lý tưởng cao nhất của tôi là cất lên tiếng hát trữ tình kia bằng một tư thế thoải mái nhất, hát thoải mái, thoải mái chạy theo những hình tượng âm nhạc diệu kỳ do bài hát gợi lên. Chừng đó, chắc chắn phần nào tiếng hát của tôi có thể làm rung động được những trái tim bè bạn" [1].
TS Nguyễn Thị Minh Thái cũng khẳng định: "Đặc điểm và di sản lớn nhất trong cách hát của Thương Huyền là bà xây dựng kỹ thuật trên cơ sở âm nhạc dân ca, đặc biệt là kỹ thuật ‘rung hột’. Bà dung nạp sự tinh tế của dân ca vào tân nhạc, làm động lòng người nghe vô cùng. Không biết là có những ai được bà Thương Huyền truyền nghề nhưng tôi biết chắc chắn là có Lê Dung. Hồi đấy Lê Dung từ Quảng Ninh về, đang đi tìm thầy để học. Lê Dung xin học bà Huyền, nói rằng con rất hâm mộ kỹ thuật rung hột của cô, nghe cực kỳ đã tai và xin bà truyền dạy cho cách hát từ dân ca để vận dụng vào hát nhạc mới. Lê Dung hay qua lại chăm sóc, hỏi han, bà Huyền yêu quý đến mức nhận làm con nuôi."
Thương Huyền cuối thập niên 1950. Tư liệu Doãn Bằng.
Thương Huyền từng kể, khi đi tàu biểu diễn ở những vùng xa, biết Đài Tiếng nói Việt Nam đến, người ta hỏi ngay, "có Thương Huyền không?" Trong những ngày Mỹ ném bom Hà Nội năm 1972, khi sơ tán về quê, bà con nông dân vẫn chạy theo hỏi "bá Huyền" và quyên góp rau gạo cho bà, hò nhau dựng một nếp nhà cho bà. Được quần chúng ái mộ nhiệt liệt, bà đã thực sự là một nghệ sĩ của nhân dân.
Tuy nhiên vào đợt phong danh hiệu đầu tiên của Nhà nước vào năm 1984, điều gây sốc khi đó là Thương Huyền chỉ được danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú. Trả lời câu hỏi của nhà báo Cao Nhị về việc bà đã phản ứng mạnh và đấu tranh mạnh khi không được phong Nghệ sĩ Nhân dân, Thương Huyền trả lời: "Phản ứng mạnh thì không đúng, nhưng đấu tranh mạnh thì có. Tôi không thích lối khiêm tốn giả vờ, tôi chỉ đấu tranh cho chân lý, cho những quyền lợi chính đáng của mình". Cao Nhị nhận xét, "chị rất xứng đáng được phong danh hiệu nghệ sĩ nhân dân - cũng giống như đạo diễn Ngọc Quỳnh, như nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên - từ 5 năm trước. Sự kiên nghị, thẳng thắn trong trường hợp này dễ bị hiểu lầm (và đã bị hiểu lầm)".
Chính nghệ sĩ Lê Dung cũng từng trả lời khi được phong danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân rằng có những người cần phong tặng sớm để khích lệ thì lại để quá muộn như trường hợp Thương Huyền. Được phong tặng vào cuối năm 1988 thì giữa năm sau, nghệ sĩ đã qua đời.
TS Nguyễn Thị Minh Thái nhận xét, sự nghiệp của bác mình luôn là niềm vinh quang của cả dòng họ. Thương Huyền không để lại các bản thu nhạc tiền chiến lãng mạn, nhưng TS Minh Thái từng được nghe bà hát Bên cầu biên giới (Phạm Duy) ở nhà: "Nhìn chung thì bác Huyền không bao giờ nhắc đến hay nói chuyện về những bài hát hay mối quan hệ quá khứ, bà chỉ muốn mọi người biết những chuyện mang tính chính trị hết sức quang minh chính đại. Các câu chuyện đời tư của bác, tôi thường được người dì út kể lại".
Khi được hỏi, tính cách của NSND Thương Huyền trong đời sống ra sao, liệu có bao giờ tỏ ra "đỏ" quá hay khó gần không, bà Thái trả lời: "Không hề, bác Huyền là người tự nhiên, không bao giờ phải ‘gồng’ lên để làm người cách mạng. Bác hát tự nhiên, hồn nhiên, nấu nướng và nói năng cũng hồn nhiên. Bác Huyền nói là cách mạng mời đi hát ở Tuần lễ Vàng, thấy được mọi người thích thì bác đi theo thôi, chứ không dùng âm nhạc làm công cụ để tỏ ra mình là người cách mạng."
Tháng 7/1989, NSND Thương Huyền qua đời, để lại những dư âm về một thời văn nghệ theo sát diễn biến lịch sử. Với người nghe thế hệ sau, chỉ còn những bản thu không phải lúc nào cũng bảo đảm chất lượng âm thanh tiêu chuẩn, nhưng vẫn đủ để cảm nhận một không khí nhuần nhị, một tinh thần cống hiến, với âm sắc tình tứ đầy ăm ắp. Những lối phát âm đặc trưng một thời được lưu lại, hẳn đã làm say mê những tài tử văn nhân thuở nào cũng như đại chúng. Nghe những chữ "xào xạc" trong Áo mùa đông người nghe hình dung ra cái gió mùa đông bắc nơi chiến khu, hay những dập dềnh của những phụ âm răng và bật môi của "trăng lên lùa cành tre, gió thổi sáo diều" trong Trăng sáng đôi miền (An Chung), như thể cảm được một làn gió mát hòa bình thổi tới.
Câu chuyện của Thương Huyền khiến người thế hệ sau bất ngờ với những khúc ngoặt và vô vàn mối liên quan, song cũng nói lên một điều rất ý nghĩa. Số phận có thể có lúc khắc nghiệt đối với những cá tính nghệ thuật, song chính nghệ thuật là phép màu mà họ tạo ra, dẫn dắt họ vượt qua gập ghềnh ấy. Thính giả lắng nghe những âm điệu ngọt ngào, giọng ca đầy lãng mạn mà tự nhiên đó, tạo cho mình một hình dung về cuộc đời với những điều đẹp đẽ đọng lại.
---
Chú thích:
[1] Thương Huyền, Tôi hát dân ca, trong tập Hành trình với âm nhạc, Nguyễn Xinh và Phan Thanh Nam chủ biên. Nxb TP Hồ Chí Minh, 2000.
[2] Thương Huyền, Minh Tâm giới thiệu, Hồ sơ số 65 - TTTLTQG III.
[3] Nhiều tác giả, 70 năm Đài Tiếng nói Việt Nam (1945-2015), Nxb. Chính trị Quốc gia, 2015, trang 63.
[4] Cao Nhị, Nghệ sĩ Thương Huyền, tạp chí Âm nhạc, số 2/1989.
[5] Công văn của Phủ Thủ tướng ngày 24/12/1952, Hồ sơ Phủ Thủ tướng ML1 - 1493 - TTLTQG III.