Keo ong là hỗn hợp nhựa được ong mật thu thập từ chồi, vỏ cây, rồi trộn với sáp và enzyme để bảo vệ tổ khỏi vi khuẩn, nấm mốc. Trong y học cổ truyền, keo ong được dùng điều trị vết thương, bỏng, viêm da nhờ chứa nhiều polyphenol, flavonoid và acid phenolic – những chất có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm và chống oxy hóa mạnh.
Hydrogel là vật liệu polymer có khả năng giữ nước, giúp làm lành vết thương, bảo vệ bề mặt da và kiểm soát giải phóng hoạt chất. Các polymer như HPMC, PVA, gelatin thường được dùng để tạo hydrogel sinh học. Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã ứng dụng keo ong trong hydrogel điều trị vết thương, nhưng tại Việt Nam, hướng đi này còn khá mới mẻ.
Nhằm phát triển dòng sản phẩm điều trị vết thương thân thiện sinh học, nhóm nghiên cứu từ Trường Đại học Tôn Đức Thắng và Trường Đại học Nguyễn Tất Thành đã phát triển màng hydrogel chứa keo ong xanh Brazil. Đây là loại keo ong do ong không ngòi tại Brazil thu thập từ cây Baccharis dracunculifolia – một loài đặc hữu của vùng Cerrado.
Mẫu keo ong sử dụng trong nghiên cứu do Công ty Tracybee cung cấp, có độ ẩm 70,17% và hàm lượng acid phenolic lên đến 111,05 mg/g – cao hơn nhiều mẫu keo ong thông thường. Các chỉ số về hoạt tính sinh học (khả năng chống oxy hóa, khả năng chống viêm) cũng cao, tương đương những mẫu keo ong chất lượng trên thế giới.
Hydrogel được điều chế bằng cách hòa tan HPMC trong ethanol 70%, khuấy ở 90°C, kết hợp glycerin, acid citric, nipagin, Poloxamer P-407 rồi gia nhiệt bằng lò vi sóng.
Keo ong được phối trộn ở các nồng độ 4%, 6%, 8% và 10% (tính theo khối lượng khô), đổ khuôn, sấy ở 45°C trong 8 giờ.
![]() |
Keo ong xanh chứa nhiều hoạt chất độc đáo.Ảnh: Internet |
Tính an toàn của sản phẩm được kiểm nghiệm trên thỏ. Khả năng kháng khuẩn được đánh giá bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch (CLSI) với bốn chủng vi khuẩn phổ biến: Escherichia coli - vi khuẩn gram âm, gây ra các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng huyết, tiêu chảy và viêm ruột; Methicillin-resistant Staphylococcus aureus (MRSA) - vi khuẩn gram dương kháng methicillin, là tác nhân gây ra các nhiễm trùng da, viêm phổi, viêm nội tâm mạc và nhiễm trùng vết mổ, đặc biệt trong môi trường bệnh viện; Methicillin-susceptible Staphylococcus aureus (MSSA) - vi khuẩn gram dương nhạy cảm với methicillin, gây các bệnh lý tương tự MRSA nhưng dễ điều trị hơn; Pseudomonas aeruginosa - vi khuẩn Gram âm, thường gây nhiễm trùng cơ hội ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, bao gồm viêm phổi, nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng vết bỏng và nhiễm trùng máu.
Kết quả, hydrogel keo ong có khả năng ức chế cả vi khuẩn Gram âm và Gram dương. Mẫu chứa 10% keo ong cho vùng ức chế MSSA đạt 25 mm – vượt cả kháng sinh Amikacin, một kháng sinh mạnh, có phổ kháng khuẩn tương đối rộng, thường được dùng để điều trị vi khuẩn gram âm và gram dương. Trong khi đó, MRSA bị ức chế mạnh ở nồng độ 8% (25 mm), ngang với Amikacin (18 mm).
Với E. coli, nồng độ 6% và 8% cho vùng ức chế 20 mm - so với 24 mm của Amikacin. Đặc biệt, ở nồng độ 10%, hiệu quả lại giảm xuống còn 13 mm, cho thấy hoạt tính không tỷ lệ thuận với nồng độ.
Đối với P. aeruginosa – chủng kháng thuốc nhất, hiệu quả chỉ rõ rệt ở nồng độ từ 8% trở lên (vùng ức chế đạt 20–21 mm), thấp hơn Amikacin (23 mm) nhưng vượt xa mẫu đối chứng không chứa chất kháng khuẩn (13 mm).
Với khả năng kháng khuẩn, chống oxy hóa và chống viêm, không gây kích ứng da, hydrogel chứa keo ong có tiềm năng trở thành sản phẩm hỗ trợ điều trị vết thương như trầy xước, bỏng nhẹ, mụn,... Tuy nhiên, để thương mại hóa, nhóm tác giả khuyến nghị cần thực hiện thêm các nghiên cứu theo dõi độ ổn định của hydrogel keo ong dưới các điều kiện bảo quản khác nhau. Đồng thời, thực hiện thêm các nghiên cứu nhằm tối ưu công thức, nâng cao hiệu quả hoạt tính sinh học và kéo dài thời hạn sử dụng của sản phẩm.
Nghiên cứu đã được công bố trên Tạp chí Khoa học Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, số Đặc biệt Hội nghị Khoa học Sức khoẻ 2025.
Nguồn:
https://tapchikhoahochongbang.vn/js/article/view/1002/886
Kiều Anh
