Một ngày sau khi Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bao gồm sáu vấn đề, trong đó hàng đầu là giải quyết nạn đói và nạn dốt. Hai vấn đề trên trong kháng chiến đã được khẩu hiệu hóa thành "Diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm".
Nhưng để một khẩu hiệu đi vào đời sống, cần một ngôn ngữ khác ngôn ngữ hành chính. Âm nhạc đã đảm nhiệm một phần công việc đó. Sau Cách mạng tháng Tám, một loạt những bài hát cổ vũ cho nhà nước độc lập mới ra đời chiếm lĩnh không gian truyền thông. Đã có một số bài ca trong hai năm đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa bắc cầu cho các sách lược này đi vào đời sống.
"Nào ai xót dân Việt Nam"
Phong trào trừ nạn đói diễn ra từ những ngày đầu Cách mạng, với sự hưởng ứng rộng rãi của văn nghệ sĩ.
Nạn đói Ất Dậu 1945 đã được các tác giả văn học ghi lại ấn tượng như Địa ngục và lò lửa (Nguyên Hồng), Vợ nhặt (Kim Lân), Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc (Văn Cao) hay các bức ảnh của Võ An Ninh. Tuy vậy, mảng âm nhạc lại khá hiếm bài hát trực tiếp về chủ đề này. Trong số đó, phải kể đến bài hát Con đò đưa xác, thường được ghi là của Ngọc Bích, nhưng có khả năng được nghệ sĩ cải lương Ngọc Toàn của đoàn cải lương Kim Chung sáng tác năm 1946.
Bìa bản nhạc Con đò đưa xác (nhạc Ngọc Toàn, lời Nguyễn Văn Đức),
được ghi của Ngọc Bích, Nxb. Tinh Hoa, Huế 1952. Ảnh: Tư liệu Trương Quý
Bài hát này khá phổ biến về sau qua giọng ca liêu trai của ca sĩ Sài Gòn Thanh Thúy, với lời ca thê lương ai oán, xót thương cho phận người: "Con đò cay đắng đưa xác người về đâu? Ô hô! Ô hô con ơi mười mấy tuổi đầu, vì chưng đói rét ngậm sầu thác oan. Trong heo may, ai chua cay, ai thương vay, ai nức nở thế này!"
Bài hát duy nhất đề cập việc cứu đói là Miếng khi đói, gói khi no của Thẩm Oánh, đăng trên tạp chí Khuyến Nhạc số 2, ngày 15/1/1946. Đây cũng là tạp chí âm nhạc đầu tiên của người Việt, ra đời tháng 12/1945, với tiêu đề trên trang nhất: "Cơ quan tuyên truyền cổ động cho nền âm nhạc Việt Nam". Khuyến Nhạc do một số nhạc sĩ có xuất xứ từ Hội Khuyến Nhạc ra đời một năm trước đó tại Hà Nội như Thẩm Oánh, Nguyễn Văn Giệp, Nguyễn Hữu Hiếu. Họ còn lập trường Khuyến Nhạc dạy ký âm pháp, piano, violin, guitar và kèn saxophone từ 15/2/1944. Tạp chí Khuyến Nhạc chịu ảnh hưởng thẩm mỹ kiểu cách, có phần salon, khá khác biệt với phong cách mang tính cách mạng trong các bài viết về âm nhạc trên các tạp chí của lực lượng Việt Minh như Tiên Phong hay Cứu Quốc.
Bản nhạc Miếng khi đói, gói khi no của Thẩm Oánh trên tạp chí Khuyến Nhạc số 2, ngày 15/1/1946. Tư liệu Trương Quý. Thiết kế ảnh: Mỹ Hạnh
Tuy vậy, nhạc sĩ Thẩm Oánh, một người được xem như thuộc tầng lớp trên trong xã hội, lại có sự đồng cảm với các nạn nhân của cái đói khủng khiếp năm Ất Dậu vừa qua:
"Kìa! Kìa trên đường xa bao hình ma bước vật vờ.
Mang tấm thân điêu tàn đi trên đường đầy gió mưa, cần ai thương xót.
Đây! Cháu con Việt Nam! Thương nhau cho cùng, Vì dòng giống muôn năm.
Nào, nào! Ai xót dân Việt Nam. Từ bao trong kiếp cơ hàn!
Cùng dòng máu, cứu nhau lầm than. Vì nhau giúp khi nguy nàn.
Kìa! Dân đói! Hỡi ai no! Mau cứu nhau qua cơn lầm than.
‘Một miếng khi đói, bằng gói khi no’. Mau cứu nhau qua cơn cơ hàn".
(Lời ca khúc Miếng khi đói, gói khi no, 1946)
Thẩm Oánh là một trong số những người tiên phong viết bài hát mới (tân nhạc), và đã có những tác phẩm được xuất bản và trình diễn ngay từ những năm cuối thập niên 1930. Ông chủ trì nhóm Myosotis (Hoa Lưu Ly) cùng Dương Thiệu Tước, Vũ Khánh, Nguyễn Trần Dư và một số nhạc sĩ khác. Các bài hát của nhóm mang nét lãng mạn, ảnh hưởng của âm nhạc Pháp, và từng được coi là "chỉ phù hợp với thứ văn nghệ salon, văn nghệ bỏ túi" (Phạm Duy, Hồi ký tập I: Thời thơ ấu - Vào đời, chương 19). Các bài hát của họ ban đầu thậm chí còn có lời tiếng Pháp. Tuy nhiên, chính Thẩm Oanh và sau này là Dương Thiệu Tước đều tìm tòi các đề tài và chất liệu âm nhạc truyền thống, để lại những tác phẩm có giá trị.
Miếng khi đói, gói khi no là một bài hát thế sự, cho thấy một năng lực sáng tác riêng của Thẩm Oánh khi tiếp cận các đề tài khó viết. Hẳn nhiên, những lời thiết tha kêu gọi cứu đói này đáp ứng phong trào đương thời. Điều quan trọng là bài ca không dừng ở việc tả hoàn cảnh hay thuần túy kể cảnh khổ đau mà có lời cổ vũ con người cùng "dòng giống" đùm bọc nhau trong hình thức một lời khuyên nhủ ân cần.
"Cô nên tới đó học hành cho thông"
Trong khi đó, phong trào "tiêu diệt giặc dốt" có một bệ phóng vững chắc từ cuộc chuyển hóa của Hội Truyền bá quốc ngữ, một tổ chức xã hội thành lập năm 1938 sang Nha Bình dân học vụ, một cơ quan thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục của nhà nước được lập ngày 8/9/1945. Cuộc vận động này tỏ ra có kết quả trông thấy khi các trường học theo "phương pháp i tờ" (người học bắt đầu từ hai chữ cái dễ nhận mặt nhất, do Hoàng Xuân Hãn cùng Trần Văn Giáp, Vũ Hy Trác đề xuất), lên tới 75.000 lớp học sau một năm.
Bản nhạc Cô Tú (Long Châu), Nxb. Tinh Hoa, Huế 1951. Tư liệu Trương Quý. Thiết kế ảnh: Mỹ Hạnh
Hình tượng "i, tờ" cũng hấp dẫn các nhạc sĩ để tạo nên các bài hát có tính vui vẻ, nổi bật nhất là Cô Tú (Nguyễn Long Châu, 1945). Bài hát theo điệu xẩm, dựa trên bài thơ lục bát được viết nhằm cổ động người đi học, nhất là giới nữ, vốn thiệt thòi hơn nam giới trong việc tiếp cận chữ nghĩa:
"Ai về chợ huyện Thanh Vân,
Hỏi thăm cô Tú đánh vần được chưa.
Đánh vần năm ngoái, năm xưa,
Năm nay quên hết nên chưa biết gì.
Lưng trời tiếng sáo vu vi,
Vẳng nghe ai học chữ i, chữ tờ.
Sách i tờ biếu không cho học,
Liệu cô mình đã đọc được chưa?
Đôi bên bác mẹ cùng già,
Lấy cô hay chữ để mà cậy trông.
Mùa hè cho chí mùa đông,
Ruộng vườn thóc lúa tính thông cô chẳng nhầm.
Nụ tầm xuân còn đương phong nhụy,
Xin cô mình đừng phí ngày xanh.
Bình Dân Học Vụ lập thành,
Cô nên tới đó học hành cho thông".
(Lời ca khúc Cô Tú, 1945)
Với làn điệu kiểu xẩm, lời ca lại có sự dí dỏm kiểu giao duyên, gợi ý những hình ảnh truyền thống, phù hợp với cách biểu diễn mang tính sân khấu nên Cô Tú dễ đi vào lòng người, đặc biệt ở các vùng nông thôn. Bài hát có sự hấp dẫn đại chúng đến độ vẫn được hát và thu âm ở vùng tạm chiếm thời kháng chiến chống Pháp qua giọng ca tài tử Ngọc Bảo và cả ở miền Nam trước năm 1975 với giọng ca Elvis Phương. Trong đó, cụm từ "bình dân học vụ" được giữ nguyên, gợi ký ức về một cơ quan cách mạng.
Bản nhạc Gieo ánh sáng (Lưu Hữu Phước, lời Mai Văn Bộ), Nxb. Hoàng Mai Lưu, Hà Nội 1946. Ảnh: Tư liệu Thư viện Quốc gia
Bài hát đầu tiên của phong trào Truyền bá quốc ngữ và từng được lấy làm bài hát chính thức của Hội Truyền bá quốc ngữ Nam Kỳ là Gieo ánh sáng (nhạc Lưu Hữu Phước, lời Mai Văn Bộ, 1944) cũng được xuất bản và trình diễn, song thuần túy là một hành khúc trang trọng, có tính luận đề cao: "Lòng vui sướng anh em ơi! Tim thấm nhuần tình đồng bào. ...Cùng đi gieo khắp nơi chữ ta, nơi hương thôn tối tăm đời mịt mờ xót xa".
Bản nhạc Thi đua ái quốc của Minh Quốc - Minh Hiền.
Ảnh: Tư liệu Trương Quý
Tiếp nối cuộc vận động này, dưới khẩu hiệu "diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm" trong phong trào thi đua ái quốc năm 1948, một loạt các bài hát về các nhiệm vụ này ra đời như ba bài hát cùng tên Thi đua ái quốc của Minh Quốc, Ngô Huỳnh và Phạm Duy.
"Thi đua, thi đua làm sao,
Thi đua, thi đua cùng nhau.
Sĩ, nông, công, thương và binh.
Thi đua, thi đua trừ đói,
Thi đua, thi đua trừ dốt,
Thi đua, thi đua trừ quân ngoại xâm!"...
(Thi đua ái quốc, Minh Quốc - Minh Hiền, 1948)
Minh Quốc và Ngô Huỳnh đều là nhạc sĩ các vùng chiến khu Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Các bài hát này cho thấy sự nhất quán về thông điệp thi đua yêu nước khởi từ ngày lập quốc từ Bắc chí Nam. Những ca từ mộc mạc, phản ánh mục tiêu cụ thể, nhằm tới số đông nhân dân, lực lượng hậu phương cho cuộc kháng chiến, nằm trong khối "sĩ, nông, công, thương và binh" như bài hát của Minh Quốc đã nêu.
Bìa bản nhạc Bình dân đi học (Phạm Duy),
Nxb. An Phú, Sài Gòn 1954. Ảnh: Tư liệu Trương Quý
Một số bài ca truyền bá trong vùng tạm chiếm dù đổi lời vẫn giữ cái gốc phản ánh những phong trào tập thể, như Thi nhau ái quốc thành Thi nhau chăm học, Bình dân học vụ đổi thành Bình dân đi học (đều của Phạm Duy).
"Học sinh đua nhau tiến tới
Ra trường học chăm học mãi
Trẻ thơ siêng năng hăng hái
Nhớn lên đắp xây cuộc đời.
Anh lớn hay làm thơ
Thì em biết đọc i, tờ"
(Thi nhau chăm học, lời xuất bản năm 1954)
Hai nhiệm vụ được đề ra từ những ngày đầu Cách mạng tháng Tám đã tìm được lời đáp từ giới nhạc sĩ, góp sức vào việc tạo dựng hình ảnh đoàn kết của người dân nước Việt. Cho dù giờ chúng ít được biết đến, song các bài hát gợi ra một điều quan trọng của những cuộc vận động là sự gắn bó mật thiết với nhu cầu của người dân trong một giai đoạn lịch sử quan trọng nhất của đất nước. Giản dị, không hoa mỹ, chúng lan truyền niềm tin tưởng cho con người vào cộng đồng mà họ thuộc về.