Nếu chỉ nhìn Hà Nội trong hiện tại, chúng ta cùng thấy một thành phố đang vận động, với dòng người bất tận trên đường, bán mua, toan tính, sắp xếp; những tòa nhà mọc lên trong chớp mắt, những con đường nghe chưa quen tên... Nhưng nếu nhớ được những gì từng tồn tại trước đó, ta cảm thấy mình được sống trong nhiều lớp thời gian chồng lên nhau, trải nghiệm sống của ta trở nên sâu sắc. Thành phố không chỉ là của hôm nay, nó còn là thành phố của tuổi thơ ta, thanh xuân ta, lại cũng nơi ấp ôm ấu thơ và thanh xuân của ông bà cha mẹ ta. Lui về quá khứ xa hơn, là thành phố của những phong trào ái quốc, những bài ca lãng mạn và hào hùng, của lớp sóng hưng phế vương triều, của phố phường cửa ô in dấu chân người Kẻ Chợ đi về.
Dấu vân tay của phố là tác phẩm mới nhất của nhà văn Nguyễn Trương Quý, do Nhã Nam và NXB hà Nội ấn hành tháng 9/2026. Ảnh: DT
Dấu vân tay của phố của nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Quý là một nỗ lực nhằm tái hiện những lớp thời gian đó.
Như một người dẫn đường hiểu biết, nhẫn nại và dịu dàng, tác giả đưa chúng ta vào một cuộc du ngoạn thú vị xuyên thời gian và không gian, nơi kinh kỳ xưa có thể được nhận diện hoàn toàn bằng màu sắc. Đọc ca dao, chúng ta chỉ biết "Hà Nội ba sáu phố phường / Hàng Gạo Hàng Đường Hàng Muối trắng tinh", nhưng đọc cuốn khảo cứu văn hóa đô thị của Nguyễn Trương Quý, ta biết Hàng Đào chuyên nghề nhuộm màu đỏ, với những hàng bán yếm lụa đào. Biết Hàng Ngang từng chuyên bán màu lục, phố Hàng Lam chuyên nhuộm màu lam, hai thứ màu thường được dùng cho quan phục. Lại có phố Hàng Vải Thâm, phố Hàng Nâu chuyên bán vải thâm vải nâu cho người lao động. Mở rộng ra, kinh kỳ còn có những sắc màu của huyền thoại và truyền thuyết, với đền Bạch Mã, hồ Trâu Vàng (hồ Kim Ngưu), hồ Lục Thủy, xóm Bích Câu...
"Những cái tên có màu sắc trong tên phố phường hay địa danh ở Hà Nội đủ vẽ ra một bức tranh đô thị cổ xưa, trộn lẫn giữa nhu cầu thực tế đời sống với những biểu tượng lễ nghi. Tên phố gợi lên màu sắc thông qua hàng hóa đi từ một tư duy trực quan của cư dân, gắn với những nhu cầu thật căn bản của người xưa. Điều ấy khiến chúng ta vào thời no nê thừa mứa màu sắc cảm động."
Một tác phẩm vẽ Hà Nội của nhà văn Nguyễn Trương Quý. Ảnh: TGCC
Ý tưởng về bảng màu chỉ được triển khai trong sách qua bài viết "Hàng Đào lụa đỏ, Hàng Ngang áo xanh", nhưng tôi đã đọc cả cuốn sách từ góc độ sắc màu, dù đó có thể không phải là điều tác giả dự kiến. Không chỉ các khu phố hàng mà còn có một không gian khác cũng được tô màu trong ký ức, đó những khu tập thể cũ.
Những khu tập thể tường vàng xỉn và cầu thang tróc lở màu thời gian đã trở thành một tín hiệu thẩm mỹ của thành phố, bất chấp những tòa nhà cao tầng sáng bóng đã chiếm vị trí áp đảo. Chẳng phải những cô gái trẻ vẫn thích tạo dáng chụp ảnh bên bức tường vàng rêu phong, hay những cặp đôi chụp ảnh cưới phong cách bao cấp, đứng e ấp trên cầu thang một khu tập thể cũ! Tôi vẫn tự hỏi, điều gì, vì sao, khu tập thể Hà Nội bây giờ lại được hoài nhớ và trở thành một thứ phong cách được tiêu dùng. Thật hay, tôi tìm thấy câu trả lời trong cuốn sách của nhà văn Nguyễn Trương Quý.
Những khu tập thể được xây dựng ở miền Bắc trong thời kỳ chiến tranh và bao cấp khoảng từ 1960 đến 1990, thay cho những căn lụp xụp của các làng xóm nội đô. Căn hộ hai nhăm mét vuông, có phòng khách phòng ngủ, vệ sinh riêng, nằm trên các tòa nhà cao năm tầng, được xây dựng trên diện rộng, đã là biểu tượng của đời sống mới. Ngăn nắp và văn minh, khu tập thể là "vẻ đẹp mang tính trí thức", "ẩn dụ cho cuộc sống trọn vẹn, như một giấc mơ đô thị".
Diễn viên Lê Vân đã choáng ngợp thế này: "Khi chúng tôi mới quen nhau, anh chủ động mời tôi đến nhà chơi... Cuối những năm bảy mươi, khi tất cả còn phải sống chui rúc hàng trăm người chung một nhà xí, thì một căn hộ với phòng khách riêng, phòng ngủ riêng, một nhà tắm với vệ sinh riêng nhỏ xíu nhưng sạch sẽ là cả một niềm mơ ước. Hồi đó, sau giải phóng, nên trong nhà anh cũng đã thấy có kê một tủ lạnh, một đàn pi-a-nô, những kệ sách chất đầy sách gợi ra cả một thiên đường trí thức,... Cuộc sống của anh lúc ấy có một cái gì đó rất khác với kiểu sống xô bồ tạp nham của những gia đình nghệ sĩ tôi từng gặp. Anh không giàu nhưng rõ ràng anh ở một đẳng cấp khác, một tầng văn hóa khác". (Trích tự truyện Lê Vân Yêu và sống, 2006)
Nhưng rất nhanh khu tập thể cũng trở thành không gian mang nhiều chua chát, nhất là ở cuối thời kỳ bao cấp khó khăn, đồng lương bọt bèo, nhà ở xuống cấp, những trí thức phải nuôi cả lợn trong khu vệ sinh để kiếm thêm, láng giềng thì đụng chạm dòm ngó nhau... Hai thái cực cảm xúc dồn nén trong một khoảng thời gian ngắn, hẳn là in hằn trong ký ức nhiều người.
Nhận định này của tác giả thật chính xác: "Khu tập thể không chỉ là cách gọi một loại hình không gian cư trú mà đã hiện diện trong không gian văn hóa đô thị suốt nhiều thập niên, tạo ra một hệ hình cư trú quan trọng bên cạnh những phố cổ và phố thời thuộc địa hay các làng xóm nội đô, kết thành đặc điểm của Hà Nội trong thế kỷ 20."
Trong một thành phố ngày càng đông và chỗ ở ngày càng đắt đỏ, khu tập thể vẫn nhẫn nại thực hiện vai trò của nó cho đến tận bây giờ. Chính vì sự hiện diện sâu sắc trong đời sống, với thời gian lại được phủ lên màn sương hoài niệm mà những bức tường vàng lại trở thành hấp dẫn. Người ta có thể không muốn ở bên trong, nhưng lại muốn viết muốn vẽ về nó.
Một tác phẩm vẽ Hà Nội của nhà văn Nguyễn Trương Quý. Ảnh: TGCC
Một mảng màu khác cũng được thể hiện đậm nét trong sách chính là thứ màu sắc kỳ ảo của ánh điện thành phố. Nguyễn Trương Quý khảo sát ánh sáng kinh kỳ từ những vùng tối thăm thẳm của các xóm ngoại ô, những ngọn đèn dầu lạc trong phố, đến những ánh điện đầu tiên, và đến cái lấp lánh của những quán nhạc, rạp chiếu phim, vũ trường, khách sạn - những không gian đặc trưng của đời sống thị dân.
Điều thú vị là đầu thế kỷ XX, người Hà Nội không chấp nhận ánh điện ngay, điện chưa đủ nhiều để trở thành tất yếu trong đời sống thường nhật, và ánh sáng của đèn dầu, của trăng vẫn là ánh sáng của thẩm mỹ. Nhưng khi những người thành phố di cư lên Việt Bắc thủ đô gió ngàn làm cuộc kháng chiến chín năm, phải đốt đuốc soi rừng, thì ánh sáng kinh kỳ bắt đầu trở thành sắc màu hoài niệm trong sáng tác của các nhạc sĩ, thi sĩ. Họ đã tạo dựng ấn tượng về một kinh kỳ lấp lánh trong tâm tưởng mọi người.
Và "Khoảng thời gian mười năm thanh bình sau 1954 đã kịp để lại một mỹ cảm mới về ánh đèn điện cùng một thế hệ tuổi trẻ lớn lên tiếp nối thế hệ tiền chiến. Ánh đèn trở thành ký hiệu hòa bình, phủ lên lớp ánh sáng lãng mạn cho những khu nhà tập thể: "Từ bao mái nhà đèn hoa sáng ngời, bầu trời thêm vào muôn ngàn sao sáng" (Những ánh sao đêm - nhạc Phan Huỳnh Điểu, 1962) hay một chút âm hưởng tiền chiến xưa cũ: "Từ ánh nê-ông pha biếc buổi chiều, đến khóm hoa trong hơi mưa màu tím" (Trở lại trái tim mình - thơ Bằng Việt, 1967). Ánh đèn nê-ông gợi cảm giác tân kỳ, khác với ánh đèn sợi đốt quen thuộc, là ánh sáng của những ngọn đèn đường, nơi hò hẹn của thanh xuân."
Nguyễn Trương Quý đã phác họa một phần lịch sử ánh sáng trên mảnh đất thủ đô trong hơn một thế kỷ, kể từ khi điện tham gia vào cấu trúc đô thị đến mức "điện chính là thành phố".
Cuốn sách còn mở rộng sang nhiều khía cạnh khác của đời sống Hà Nội, cả vật chất lẫn tinh thần. Đó là chuyện hàng quán, cái mặc, cái ăn; là sách báo, nhà hát cô đầu, phòng trà, rạp chiếu phim, sàn nhảy... Nhờ những khảo sát tỉ mỉ và phần tư liệu phong phú, cuốn sách mang đến nhiều thông tin thú vị, bất ngờ, làm nổi bật những "dấu vân tay" của Hà Nội cùng những biến đổi của đời sống qua từng nhịp thời gian, để người đọc có thể nhìn sâu hơn vào nơi chốn mình đang sống. Là một khảo cứu, nhưng cuốn sách lại rất giàu chất văn chương, mà qua đó ta có thể thấy bóng dáng "lãng khách" của người viết, khi tò mò, ngạc nhiên, lúc cười ý nhị, lúc lại suy tư và tỏ bày nỗi hoài niệm về những điều đã qua.