Trong phòng chống thiên tai, những dữ liệu về địa hình, dòng chảy hay nguy cơ ngập lụt không phải lúc nào cũng cho thấy đầy đủ những gì xảy ra ở cấp độ từng xóm, từng hộ gia đình. Ở đó, kinh nghiệm sống của người dân từ những đoạn đường thường ngập trước, độ sâu nước trong nhà cho tới những cách họ xoay xở để duy trì cuộc sống có thể bổ sung một lớp thông tin mà các dữ liệu quy hoạch thông thường khó phản ánh hết.
Một nghiên cứu mới tại xóm Bến Vôi (trước đây thuộc xã Cấn Hữu, huyện Quốc Oai, nay thuộc xã Kiều Phú, Hà Nội) đã kết hợp những hiểu biết tại chỗ này với dữ liệu không gian và các mô hình khoa học để xây dựng một kế hoạch thích ứng với lũ có tính đến điều kiện cụ thể của cộng đồng.
Xóm Bến Vôi chìm trong biển nước lũ vào ngày 30/7/2024, trước khi bão Yagi xảy đến. Khắp các con đường làng, ngõ xóm đều mênh mông trong nước, làm xáo trộn cuộc sống của người dân. Ảnh: Tùng Đinh
Đây là nơi sau mỗi đợt bão lớn lại biến thành ốc đảo mênh mông nước trong nhiều ngày, thậm chí là hàng tuần, có trường hợp người dân được phỏng vấn cho biết ngập kéo dài 20-30 ngày. Vào những ngày đó, cảnh người dân chèo thuyền qua ngõ hay bì bõm lội nước ngập ngang hông đã trở thành hình ảnh quen thuộc.
Người dân nhìn lũ từ quy mô ngôi nhà và sinh kế
Xóm Bến Vôi nằm ở vùng trũng thấp bên tả ngạn sông Tích, được bao quanh bởi sông và đồng ruộng. Ngôi làng rộng vỏn vẹn 2,87 ha này có địa thế đặc biệt ở chỗ phần đất ở trung tâm cao hơn cánh đồng xung quanh 2-3 mét, nhưng toàn bộ xung quanh lại nằm thấp hơn hẳn các khu dân cư lân cận. Do đó, mỗi khi lũ sông Tích dâng cao, Bến Vôi luôn là một trong những điểm ngập đầu tiên trong khu vực, đồng thời dễ bị cô lập.
Trong trận lũ do bão Yagi hồi tháng 9/2024, mực nước tại đây chạm mốc 7 mét so với mực nước biển. Đáng chú ý, chỉ hơn một tháng trước đó, ngôi làng cũng vừa rơi vào cảnh cô lập vì nước sông dâng cao.
Để xác định mức độ ngập và những khu vực người dân địa phương coi là có nguy cơ, nhóm đã khảo sát 13 điểm ngập sâu trong xóm bằng cách đo đạc trực tiếp các vết ngấn nước trên tường gạch và dải trứng ốc bươu khô sót lại sau trận lũ bão Yagi. Những dữ liệu này được đối chiếu với khu vực nguy cơ do đại diện cộng đồng tự đánh dấu trên bản đồ, ảnh vệ tinh Sentinel-2 và mô hình số độ cao (DEM), từ đó dựng bản đồ rủi ro ngập của khu vực.
Từ trái sang phải: (1) Người dân đánh dấu các đoạn ngập, (2) Dấu nước còn sót lại sau lũ, (3) Dải trứng ốc bươu khô sót lại. Ảnh: Công bố của nhóm nghiên cứu
Quy hoạch nhìn ở quy mô lưu vực và đô thị
Đồng thời, qua phỏng vấn người dân, nhóm nghiên cứu nhận thấy vấn đề người dân lo lắng nhất là thiệt hại kinh tế do ngập lụt tái diễn. Những tổn thất trực tiếp đến sinh kế, như mất mùa và gián đoạn hoạt động sản xuất thủ công, gây khó khăn kinh tế kéo dài. Bên cạnh đó, ngập lụt làm tê liệt các hạ tầng thiết yếu như đường sá, điện và nước, hạn chế liên lạc và đi lại, khiến công tác ứng phó khẩn cấp gặp nhiều khó khăn. "Những thiệt hại lặp đi lặp lại này còn dẫn đến tình trạng mệt mỏi về tinh thần và làm suy giảm chất lượng cuộc sống của người dân", nhóm nghiên cứu viết.
Trong khi đó, việc ứng phó tại chỗ phần lớn vẫn mang tính tự phát, thích ứng tạm thời. Chuyển đồ đạc và vật dụng quan trọng lên nơi cao hơn, kể cả mái nhà, là cách phổ biến nhất. Bên cạnh đó, cũng có một số người chủ động chuẩn bị từ trước bằng cách mua các thiết bị thoát nước nhỏ hoặc thuyền.
Đáng chú ý, phần lớn người dân cho biết họ có rất ít cơ hội tham gia vào quá trình lập kế hoạch ứng phó thiên tai và cảm thấy ý kiến của mình chưa được phản ánh hiệu quả trong quá trình hoạch định chính sách. Dù chính quyền đã hỗ trợ các nhu yếu phẩm như gạo, mì, gia vị và tiền mặt, người dân cho biết họ cần những giải pháp lâu dài như nâng đường, cải thiện thoát nước, gia cố bờ bao, cảnh báo sớm, hỗ trợ sinh kế và phục hồi sau ngập.
Đối chiếu những phản ánh này với tám tài liệu quy hoạch và chính sách của Hà Nội và trung ương, nhóm tác giả nhận thấy một sự lệch pha. "Các tài liệu về quản lý nước và ứng phó lũ lụt tại vùng đô thị Hà Nội nhìn chung đều đặt vấn đề ở quy mô rộng, nhấn mạnh cách tiếp cận quản lý tổng hợp theo lưu vực và tầm nhìn dài hạn. Tuy nhiên, các ưu tiên lại nghiêng nhiều về cải thiện hạ tầng đô thị và các giải pháp kỹ thuật", nhóm viết.
Bảng phân tích của nhóm nghiên cứu cho thấy một số tài liệu có xu hướng thiên về đô thị hoặc tập trung vào giải pháp kỹ thuật. Quy hoạch tổng thể vùng Thủ đô được mô tả là có "cấu trúc lấy đô thị làm trung tâm"; quy hoạch thoát nước có "trọng tâm kỹ thuật, thiếu bối cảnh xã hội". Chiến lược quản lý nước của World Bank được nhận xét là nhấn mạnh công nghệ, hạn chế sự tham gia của người dân và chỉ tập trung vào hai quận trung tâm Hà Nội, chưa giải quyết vấn đề ngập ở các khu vực ngoại vi. Một số tài liệu khác cũng được đánh giá là thiên về hạ tầng truyền thống hoặc có chiến lược còn hạn chế đối với khu vực nông thôn.
Các tài liệu này vẫn tính tới người dân và khu vực ngoại thành, chẳng hạn, Kế hoạch phòng chống thiên tai quốc gia có đề cập bản đồ rủi ro cấp xã, đào tạo và hệ thống cảnh báo. Quy hoạch vùng Thủ đô năm 2024 cũng đề cập di dời, tái định cư. Nhưng nghiên cứu cho rằng các vấn đề cụ thể hơn như bồi thường, khôi phục sinh kế, điều kiện nơi ở sau tái định cư, hay mối liên kết giữa kế hoạch cấp địa phương với quy hoạch cấp lưu vực vẫn chưa được làm rõ.
Vì vậy, vấn đề mà nghiên cứu chỉ ra không phải là quy hoạch không có giải pháp chống lũ, mà là các giải pháp đang được xây dựng ở những quy mô và ưu tiên khác với những gì người dân trực tiếp trải nghiệm.
Kết hợp tri thức cộng đồng và quy hoạch
Để đưa ra giải pháp phù hợp cho cộng đồng, nhóm tìm hiểu khoảng cách giữa quy hoạch và thực tế dân sinh, với cách tiếp cận đồng thời cả ba góc nhìn, gồm đại diện cộng đồng, người dân trực tiếp chịu ảnh hưởng, và hệ thống văn bản chính sách.
Khảo sát năm đại diện nòng cốt xóm Bến Vôi, như Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn, Phó trưởng thôn, Chi hội trưởng Phụ nữ và đại diện Đoàn Thanh niên, nhóm nghiên cứu nhận thấy hai nhóm quan điểm chính khi xếp hạng 18 giải pháp chống lũ.
Một nhóm ưu tiên các biện pháp hữu hình và khả năng khôi phục nhanh các chức năng thiết yếu, như khơi thông dòng chảy, bảo đảm đường giao thông, duy trì kết nối tới bệnh viện, trường học và mở rộng kè, mương thoát nước.
Nhóm còn lại thiên về khả năng chống chịu dài hạn, coi trọng mảng xanh hấp thụ nước, đa dạng cây trồng và duy trì sinh kế.
Dù khác nhau về cách tiếp cận, cả hai nhóm đều đánh giá cao việc duy trì hoạt động kinh tế sau lũ và bảo đảm các hạ tầng thiết yếu như điện, nước.
Một trong những hộ bị ngập nặng nhất trong xóm trong đợt ngập tháng 7/2024. Dù thềm nhà cao hơn mặt đường nửa mét, nước vẫn tràn vào trong. Ảnh: Tùng Đinh
Từ trường hợp Bến Vôi, nhóm nghiên cứu đề xuất năm nhóm giải pháp thích ứng dựa vào cộng đồng, kết hợp giữa cải thiện hạ tầng và các biện pháp về sinh kế, quản trị và cảnh báo.
Thứ nhất, nghiên cứu đề xuất ưu tiên nâng cấp hạ tầng kè, đường và hệ thống thoát nước tại các khu vực thấp, dễ bị cô lập. Việc nâng cấp cần được điều chỉnh theo mực lũ dự báo và đồng bộ với quy hoạch thoát nước chung của khu vực.
Thứ hai, các nhà khoa học cho rằng nên xây dựng hoặc cải tạo các điểm tránh trú đa chức năng tại khu vực cao, an toàn, ngày thường dùng làm không gian sinh hoạt cộng đồng, khi có thiên tai trở thành nơi sơ tán và cứu trợ.
Thứ ba, nghiên cứu nhấn mạnh cần tăng cường cơ chế quản trị có sự tham gia của người dân. Địa phương cần xây dựng các tổ chức ứng phó thiên tai ngay trong thôn, tổ chức tập huấn định kỳ, cung cấp hướng dẫn trực quan, phân công vai trò cụ thể và tạo điều kiện để người dân trực tiếp tham gia xây dựng phương án ứng phó.
Thứ tư, để giảm thiệt hại kinh tế do lũ, nghiên cứu đề xuất chuyển sang nông nghiệp thích ứng với lũ, như đa dạng cây trồng, thay đổi phương thức canh tác và điều chỉnh mùa vụ.
Thứ năm, nghiên cứu cho rằng cần xây dựng nền tảng để người dân chủ động ứng phó tức thời khi lũ xảy ra. Có thể lắp đặt hệ thống phát thanh cảnh báo đến hộ dân, xây dựng quy trình sơ tán ở cấp cộng đồng, tổ chức các nhóm hộ lân cận hỗ trợ nhau và bố trí phương tiện sơ tán dùng chung.
Các kết quả nghiên cứu của nhóm đã được công bố trong bài báo "Community-based climate adaptation through participatory planning: A case study of Bến Vôi, Vietnam" trên tạp chí International Journal of Disaster Risk Reduction.