Bảo tàng chuyển mình trước trào lưu “check-in”

Khách tham quan ngày nay có nhu cầu cao độ về việc dùng điện thoại cá nhân để ghi lại trải nghiệm tại chỗ đối với các hiện vật, và điều này thôi thúc các bảo tàng sáng tạo.

Trải nghiệm sáng tạo mỹ thuật trong một chương trình “Đêm bảo tàng”. Ảnh: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Bắt đầu từ mùa thu 2025, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (Hà Nội) đưa chương trình “Đêm bảo tàng” vào hoạt động, với nhiều nội dung khác nhau, gồm các tour xem 9 bảo vật quốc gia, trò chuyện về nghệ thuật, văn học, tương tác trải nghiệm sáng tạo mỹ thuật và thưởng thức các tiết mục âm nhạc. Đến nay, sau ba sự kiện, số lượng đăng ký đã đến mức luôn kín chỗ.

Là người từng tham gia một chương trình với tư cách diễn giả khách mời của chủ đề mùa đông “Thương nhớ mười hai”, cũng như đã dự các nội dung khác, tôi nhận thấy, chuỗi hoạt động này hợp với nhu cầu của giới trẻ và cả những người có tuổi muốn có trải nghiệm đa dạng trong một buổi tối cuối tuần. Đêm bảo tàng dường như kéo dài đến rất khuya, khi các hoạt động của người xem tiếp tục ở các khu phố đi bộ, quán ăn đêm, và trên mạng xã hội, nơi họ đăng tải hình ảnh và nội dung về những gì vừa trải nghiệm.

Đêm bảo tàng là một trong số các phương thức mang mang tính đại chúng hóa và phá vỡ những khuôn khổ truyền thống của thiết chế bảo tàng, một thiết chế văn hóa mang tính phổ quát trên thế giới.

Để tìm hiểu xu thế chuyển mình của các bảo tàng, cần nhìn lại một chút về sự ra đời của thiết chế này ở Việt Nam.

Một thời tĩnh tại

Bảo tàng mở cửa cho công chúng, theo định nghĩa chung, có từ kỷ nguyên Khai minh vào thế kỷ 18. Đây là một thiết chế văn hóa liên quan đến kỷ nguyên của Cách mạng công nghiệp, các cuộc khám phá, cũng như quá trình thực dân hóa của các nước phương Tây. Chúng gắn liền với ý niệm nhà nước dân tộc lan truyền sau Cách mạng Pháp 1789. Chính cuộc cách mạng này đã dẫn đến việc công chúng lần đầu được tham quan cung điện Louvre, nơi trở thành bảo tàng mở cửa công cộng từ năm 1797.

Tại Việt Nam, thiết chế bảo tàng cũng là con đẻ của chế độ thuộc địa: các bảo tàng đầu tiên ra đời với chức năng trưng bày sản phẩm từ các cuộc khám phá hay khai quật khảo cổ học do các nhà nghiên cứu Pháp tiến hành tại Đông Dương.

Được xây dựng và khánh thành năm 1902 như một nơi trưng bày thành quả của cuộc khai thác thuộc địa đầu tiên ở Đông Dương, đồng thời phô diễn sức mạnh của đế quốc, nhà Đấu xảo (tọa lạc tại vị trí nay là Cung Văn hóa Hữu nghị Việt – Xô trên phố Trần Hưng Đạo, Hà Nội) về sau được chuyển thành bảo tàng mang tên toàn quyền Maurice Long. Tòa nhà chính mang phong cách kiến trúc tân cổ điển đế chế ảnh hưởng từ Cung Triển lãm nhỏ (Petit Palais) ở Paris, trưng bày theo tinh thần thể hiện các sản phẩm quảng bá “văn minh” của thuộc địa, đồng dạng với các cung triển lãm toàn cầu của các đế chế thực dân. Công trình đã bị phá hoại nặng nề do trúng bom máy bay Đồng minh vào cuối Thế chiến thứ Hai.

Các bảo tàng của Trường Viễn Đông Bác cổ (EFEO) như Bảo tàng Louis Finot (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) ở Hà Nội hay Bảo tàng Nam Kỳ, sau gọi là Bảo tàng Blanchard de la Brosse (nay là Bảo tàng Lịch sử TPHCM), ra đời vào cuối thập niên 1920. Các chính thể tiếp quản các bảo tàng này đã đưa chúng trở thành các viện bảo tàng quốc gia, đại diện chính thống của “sử liệu” về mặt hiện vật và thuyết minh.

Sau năm 1954, các bảo tàng được hình thành như một hệ thống mang tính khoa giáo và thuyết minh dạng đóng. Đồng thời chúng vẫn là những phiên bản của Bảo tàng Lịch sử, nơi hiện vật minh họa cho các bối cảnh quá khứ.

Mặt khác, các bảo tàng còn mang chức năng tuyên truyền đậm nét trong nhiệm vụ xác lập căn tính quốc gia. Năm 1960, bản hợp xướng “Hồi tưởng” của Hoàng Vân mang cái tên ban đầu là “Những bức tranh trong viện bảo tàng”. Câu hát trong bài gợi ý về một cuộc tìm hiểu lịch sử qua các diễn giải của không gian trưng bày: “Trước mắt chúng ta là những bức tranh lịch sử, còn đứng kia những người con của dân tộc anh hùng”.

Trong bối cảnh đó, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam là một nơi có tính giải trí hơn cả do yếu tố mỹ thuật tạo ra. Bảo tàng này ra đời tương đối muộn, vào năm 1966. Tòa nhà chính vốn là trường nội trú dành cho con gái của các quan chức Pháp thuộc địa được cải tạo để mang phong cách kiến trúc kết hợp đặc điểm truyền thống Việt Nam: mái ngói có đầu đao, sảnh đón kiểu nhà tiền tế, cột tròn trên nhỏ dưới to mô phỏng cột đình, chùa…

Giải pháp có tính chuyển hóa này tương tự phong cách kiến trúc Đông Dương mà các tòa nhà bảo tàng thời Pháp thuộc từng áp dụng. Cách trưng bày cũng vậy, đều là dạng treo tường hay đặt trên bục trong các phòng ngăn chia đều đặn, đưa người xem đi theo lối thưởng ngoạn tuyến tính.

Khi người thưởng lãm muốn nhiều hơn

Đại diện cho sự thay đổi về hình thái trưng bày mang tính hiện đại, chính là Bảo tàng Hồ Chí Minh, hình thành trong giai đoạn Đổi mới. Do KTS Garov Isakovich thiết kế và được khánh thành năm 1990, đây là một công trình được tổ chức không gian trưng bày nhiều lớp và tổ hợp khối, các mô hình tương tác bắt đầu có dù mới ở dạng các tấm pano trượt và các tài liệu ảnh dạng album cho phép người tham quan lật giở thay vì chỉ được ngắm từ xa.

Sau đó, các bảo tàng Dân tộc học, Phụ nữ đều đi những bước ấn tượng trong việc tạo thêm các không gian trải nghiệm đa dạng. Ngoài việc dùng các hiện vật gốc, các mô hình tỷ lệ 1:1 như nhà rông, nhà sàn, nhà tường trình, hay các vật dụng của người phụ nữ Việt Nam từ xưa đến nay, các lớp nội dung thuyết minh cũng hấp dẫn hơn.

Đến lượt mình, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cũng không đứng ngoài xu hướng “thâm canh” di sản của mình. Các triển lãm chuyên đề thường xuyên được tổ chức, với các phương tiện trình chiếu và phim 3D, tạo ra các mô hình ảo lấp đầy các khoảng trống hay sự thiếu hụt của mẫu vật, đặc biệt là các mẫu vật thu được từ khảo cổ học.

Người xem thích thú với hiện vật và công nghệ trình chiếu hiện đại tại triển lãm “Vũ khúc Thiền môn – Nghệ thuật Phật giáo thời Lý: Di sản và Công nghệ”. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Tại bảo tàng này, trong năm 2025 đã có những trưng bày kết hợp được nhiều thành tựu liên ngành như triển lãm “Vũ khúc Thiền môn – Nghệ thuật Phật giáo thời Lý: Di sản và Công nghệ”. Các bảo vật quốc gia như bệ đá chùa Phật Tích, tượng Kim Cương chùa Long Đọi, hay các mẫu vật khai quật ở Hoàng thành Thăng Long… được diễn giải và trình chiếu bằng các kỹ thuật 3D mapping, hologram, digital revival, gauze projection… Nhờ các công nghệ kỹ thuật số hiện đại, người xem trong một thoáng có thêm hình dung về các bức tượng bị sứt vỡ hay các mảng chạm đã phong hóa qua thời gian. Hơn thế nữa, bằng sự bồi đắp thông tin nghiên cứu, người xem nhận diện được các mô-típ vũ đạo, nhạc công và nhạc khí mang âm hưởng Phật giáo, ảnh hưởng từ các nền văn minh Ấn Độ và Trung Quốc thời cổ. Sự hấp dẫn này rọi một tinh thần mới mẻ cho tòa nhà bảo tàng đã gần trăm tuổi.

Cũng dùng khá nhiều hiệu ứng chiếu sáng và không gian trưng bày hoành tráng là Bảo tàng Lịch sử Quân sự, công trình đình đám hút khách nhất năm qua nhân kỷ niệm 80 năm Quốc khánh.

Tất nhiên, công nghệ chỉ là một điều kiện; tư duy của bảo tàng về cách đưa hiện vật đến với công chúng mới là yếu tố quyết định. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã cải tiến nhiều phương thức, chẳng hạn tạo ra các tour xem bảo vật, thiết kế những trưng bày chuyên đề hay mới nhất là sáng kiến Đêm bảo tàng hằng tháng.

Về phía người xem, từ vai trò thưởng thức thụ động, họ có nhiều đòi hỏi hơn cho sự thưởng thức. Các bảo tàng lớn của thế giới thu hút khách bằng các bộ sưu tập khổng lồ và đắt giá, song họ vẫn tìm cách tăng cường sức ảnh hưởng qua công nghệ. Người xem ngày nay có nhu cầu cao độ về việc dùng điện thoại cá nhân để ghi lại trải nghiệm tại chỗ đối với các hiện vật, trừ khi bảo tàng hạn chế việc chụp ảnh. “Check in” trước một bức tranh nổi tiếng hay một món đồ quý giá vẫn là thứ làm tăng giá trị đời sống của nhiều du khách từ xa đến. Hành vi này kéo theo Facebook, Instagram… trở thành không gian trưng bày song song các tác phẩm và đoạn video trải nghiệm. Phong cách sống thời công nghệ có thời gian nhàn rỗi cũng tạo ra cơ hội lấp đầy bằng các hoạt động giao lưu xã hội mà các bảo tàng là địa điểm phù hợp do được xem như mang tính trí tuệ và văn hóa cao.

Dẫu rằng còn có sự băn khoăn về hình thức tiếp cận mang tính thời trang và sự kiện thay vì tạo thành một sự tìm hiểu về chiều sâu, hay nỗi lo việc chiếu sáng quá nhiều giờ trong một ngày có thể gây hại, thì việc “đánh thức” các vật phẩm trưng bày đã có động lực thực tế. Điều này cũng giúp xóa đi sự sai lạc trong tư duy về vai trò bảo tàng trong đời sống như là nơi biểu hiện cho chủ nghĩa tinh hoa.

Tác giả

(Visited 36 times, 34 visits today)