Tại hầu hết các trường đại học công và những đại học tư nổi tiếng của các nước tiên tiến, việc nghiên cứu toán học (cũng như các ngành khoa học khác) là một nhiệm vụ bắt buộc của người giảng viên đại học. Không những thế, giáo sư thường được đồng nghĩa với lãnh đạo nhóm nghiên cứu có cấu trúc như sau: đứng đầu là một giáo sư, một số tiến sĩ là giảng viên hoặc trợ lí giáo sư, một số tiến sĩ làm nghiên cứu sau tiến sĩ (postdoctoral), nghiên cứu sinh và học viên cao học.
![]() | ![]() |
| Hình 1: Số giảng viên Toán tại một số ĐH năm 2008 | Hình 2: Số công trình Toán công bố theo các năm |
Với mô hình này, một người muốn làm toán có thể tiếp xúc với giáo sư của mình rất sớm (từ những năm đầu của đại học), sau đó làm việc với giáo sư của mình và nhóm nghiên cứu của ông suốt một thời gian dài: sinh viên, nghiên cứu sinh, rồi sau tiến sĩ, và kể cả sau khi đã thành giảng viên! Hình thức học hỏi phong phú: thông qua giảng bài, seminar, trao đổi trực tiếp. Khi chuyển đi nơi khác thì lại nhập vào nhóm nghiên cứu khác. Rõ ràng thời gian luyện nghề của họ vừa dài, vừa liên tục, lại luôn luôn trong môi trường chuyên gia. Cho nên tại các trường lớn, luôn xuất hiện người tài!
![]() |
| Đào tạo đại học là đào tạo nghề cho các chuyên gia cấp cao, cho nên người học cần tiếp thu tất cả các thành tựu mới nhất của khoa học kĩ thuật và khoa học quản lí. Tay nghề cao là phải đi đôi với thực thi công việc giỏi. Vì vai trò to lớn của Toán học đối với các ngành khoa học khác, nên việc Toán học đóng vai trò thiết yếu ở giáo dục đại học là điều không cần phải bàn cãi. Điều cần nhấn mạnh thêm ở đây chỉ là ngoài việc cung cấp những kiến thức cần thiết cho việc học và nghiên cứu các ngành khoa học khác, thì Toán học còn giúp cho sinh viên tăng cường khả năng tư duy. Việc trình bày kiến thức của các ngành khoa học khác dưới ngôn ngữ Toán học cũng nâng cao tính chặt chẽ và sự rõ ràng cho các môn học khác. Ngoài những môn truyền thống gắn liền với Toán như Vật lý, Cơ học..., thì điều này còn thể hiện ở các lĩnh vực khác như Kinh tế học |
Với cách tổ chức chặt chẽ như trên, hiệu quả nghiên cứu toán đã nâng lên rõ rệt ở tất cả các nước tiên tiến. (hình 2)
Đánh giá hay xếp hạng khoa toán hàng năm hay nhiều năm của một trường đại học, người ta dựa vào nhiều tiêu chí, nhưng chắc chắn trong đó có các tiêu chí sau đây: Số lượng công bố, số tiến sĩ đào tạo được, số người được nhận ghế giáo sư, phó giáo sư, giải thưởng khoa học các loại trước đó đã học, nghiên cứu hoặc làm việc tại khoa. Tất cả những tiêu chí đó có cái gốc rễ là thành tích nghiên cứu.
Việc nghiên cứu toán được tiến hành chủ yếu ở các trường đại học không chỉ nâng cao công tác đào tạo (kể cả sinh viên), mà còn tạo điều kiện thuận lợi hợp tác nghiên cứu giữa toán học với các ngành khoa học khác. Một trong những lí do chính yếu là mỗi trường đại học là một trường đa ngành. Bởi vậy các thầy của các khoa có dịp tiếp xúc nhau và trao đổi khoa học với nhau. Sinh viên cũng vậy. Không những thế, với chế độ tín chỉ, họ có thể học một số môn ở khoa khác. Điều này không những được khuyến khích, mà thậm chí trong một số trường hợp là bắt buộc. Sự hợp tác chặt chẽ này cũng đã nâng cao đáng kể khả năng ứng dụng của toán học vào các ngành khoa học khác, và qua đó ứng dụng vào các ngành kinh tế, kĩ thuật, quốc phòng.
Mô hình kết hợp giảng dạy với nghiên cứu rõ ràng là mô hình thích hợp và hiệu quả nhất mà chúng ta phải hướng tới.
Trong điều kiện số người làm toán ở Việt Nam còn rất ít, chúng ta không nên dàn trải, mà phải tập trung xây dựng một số ít khoa toán thật mạnh trong một số trường đại học hoa tiêu mà thôi. Những khoa này kết hợp với các viện nghiên cứu sẽ là những máy cái sản sinh ra những nhà toán học trong tương lai của đất nước. Không có chính sách kịp thời để tái cấu trúc lại đội ngũ giảng viên và toán học hiện nay của ta, thì 5-10 năm nữa, khi những nhà toán học đầu đàn đã về hưu hết, chúng ta có muốn cũng khó mà xây dựng được những khoa toán như vậy.


