![]() |
Ở cực kia của phân phối thu nhập, quá trình cổ phần hóa DNNN mang nặng tính nội bộ và kém minh bạch đã làm cho một số người, trong đó hầu hết là quan chức chính phủ, ban giám đốc của doanh nghiệp và những người thân cận với những đối tượng này, trở nên giàu có một cách nhanh chóng. Sự giàu lên của các nhóm đặc quyền, đặc lợi này không chỉ có tính bất thường đối với người Trung Quốc, mà nó còn chưa từng xảy ra ở bất kỳ một nước Châu Á nào khác. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng, 65% trong số 1.500 tỷ USD tài sản thanh khoản ở Trung Quốc nằm trong tay của 0,16% dân số(3). Không có gì đáng ngạc nhiên khi vào năm 1995, Trung Quốc còn là một trong những nước bình đẳng nhất ở Châu Á thì đến năm 2002 quốc gia này đã trở thành một trong những nước bất bình đẳng nhất.
Tình trạng công nhân bị sa thải hàng loạt, khan hiếm việc làm ở nông thôn, mức bất bình đẳng tăng nhanh, chiếm đoạt đất đai trắng trợn của quan chức nhà nước, nhũng nhiễu cửa quyền của hệ thống hành chính quan liêu – tất cả những căn bệnh của hệ thống này đã làm đời sống xã hội và chính trị của Trung Quốc trở nên ngày càng căng thẳng ở cả nông thôn và thành thị. Sự căng thẳng này đã bộc phát thành các vụ biểu tình của người dân với số lượng tăng rất nhanh, từ 8.700 vụ năm 1993 lên tới 74,000 vụ năm 2004, tức là tăng với tốc độ 21,5%/năm - cao gấp đôi tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc, và trung bình mỗi ngày có 203 vụ biểu tình(4). Về số lượng người tham gia biểu tình, theo nhà báo Will Hutton, con số này đã tăng từ 740.000 năm 1994 lên 3,7 triệu người năm 2004. Đáng lưu ý là không những số vụ và số người tham gia biểu tình ngày càng đông, mà quy mô trung bình của mỗi vụ biểu tình và tính bạo động của chúng cũng ngày càng tăng. Mối quan hệ giữa giới chủ và công nhân cũng ngày một xấu đi. Nếu như vào năm 1994, ở Trung Quốc chỉ xảy ra 1.909 vụ đình công, thì vào năm 2003, con số này đã tăng lên thành 22.600 vụ. Mặc dù những con số chính thức này có thể chưa phản ảnh hết mức độ căng thẳng trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của Trung Quốc nhưng chúng đã chứng tỏ một sự rạn nứt ngày càng sâu sắc trong xã hội(5).
![]() |
Cùng với sự cải thiện về mức sống thì giờ đây người Trung Quốc đã có nhiều lựa chọn hơn về giáo dục và y tế. Tuy nhiên điều này chỉ đúng cho tầng lớp khá giả vì khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục và y tế ở Trung Quốc ngày càng trở nên phụ thuộc vào thu nhập, và trên thực tế, một phần không nhỏ chi phí giáo dục và y tế đã được chuyển sang vai của người sử dụng dịch vụ(6). Tỉ lệ ngân sách dành cho giáo dục và y tế của Trung Quốc thấp hơn các nước có mức thu nhập tương đương. Không những thế, đầu tư cho các lĩnh vực xã hội của Trung Quốc không bắt kịp với nhịp độ tăng của tổng ngân sách nhà nước. Trong khi nguồn thu ngân sách của Trung Quốc tăng khoảng 17,5% thì đầu tư cho giáo dục và y tế chỉ tăng 14,2%. Hệ quả là một bộ phận không nhỏ người Trung Quốc không thể kham nổi mức chi phí giáo dục và y tế ngày một tăng cao, và những người nghèo tuyệt đối (chủ yếu ở nông thôn) thậm chí không được hưởng sự chăm sóc y tế và giáo dục tối thiểu. Với những chính sách thiếu nhạy bén về mặt xã hội trong những năm 1990, xếp hạng về chỉ số phát triển con người (HDI) của Trung Quốc đã giảm từ thứ 87 năm 1999 xuống 104 năm 2001(7). Cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta thấy xếp hạng kinh tế của Trung Quốc tiến bộ nhanh hơn hẳn so với xếp hạng về HDI. Nếu như vào năm 1993, xếp hạng HDI của Trung Quốc còn cao hơn xếp hạng GNP trên đầu người tới 41 bậc, thì đến năm 2001, mức chênh lệch này đã trở thành âm hai (- 2) bậc. Cũng cần lưu ý rằng mức độ phát triển cả về kinh tế và xã hội của các vùng miền ở Trung Quốc có sự chênh lệch rất lớn. Mặc dù về phương diện phát triển con người, Trung Quốc nằm trong nhóm trung có chỉ số HDI trung bình/cao, nhưng chỉ số HDI của năm tỉnh miền Tây chỉ ở mức trung bình (thậm chí Tây Tạng còn thuộc nhóm có HDI thấp). Ngược lại, ba đô thị lớn là Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân có chỉ số HDI trên 0,8, tức là thuộc nhóm có chỉ số HDI cao theo tiêu chuẩn quốc tế.
![]() |
Nói tóm lại, trong ba thập kỷ qua, nền kinh tế của Trung Quốc đã tăng trưởng vượt bậc, nhưng về mặt xã hội và môi trường, cũng đã thấy xuất hiện nhiều nguy cơ không bền vững và bất ổn tiềm tàng. Nhiều thay đổi quan trọng trong chính sách và cơ chế cung ứng dịch vụ và phúc lợi xã hội theo hướng giảm dần vai trò của nhà nước, tăng dần vai trò của khu vực dân sự và tư nhân. Những cải cách thể chế và cơ chế "ngân sách cứng" áp dụng cho các DNNN của Trung Quốc đã dần thu hẹp một cách đáng kể khu vực kinh tế nhà nước và tập thể - những khu vực từng chịu trách nhiệm chính về phúc lợi cho người lao động ở thành thị và nông thôn. Những thay đổi to lớn này, cùng với những vấn đề cố hữu như tham nhũng tràn lan, môi trường suy thoái, dịch vụ y tế và giáo dục chưa tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế thì những thách thức mới về thành thị - nông thôn, trung ương - địa phương, và bất công bằng là những vấn đề mà Trung Quốc buộc phải giải quyết. Suy đến cùng, đây không chỉ là những thách thức kinh tế, mà quan trọng hơn, là những thách thức về mặt xã hội và chính trị. Tùy thuộc vào mức độ khẩn trương và hiệu quả của chính phủ Trung Quốc trong việc giải quyết những vấn đề này mà quỹ đạo tăng trưởng của Trung Quốc sẽ có thể được duy trì hay sẽ bị suy giảm.
------------
1.Tôi xin chân thành cảm ơn GS. Dwight Perkins, GS. Tony Saich, TS. Jonathan Pincus và Ông Ben Wilkinson đã giúp cung cấp nhiều thông tin bổ ích cho bài viết này. Tuy nhiên, mọi thiếu sót nếu có hoàn toàn thuộc trách nhiệm của người viết.
2.Tiêu chuẩn nghèo của Trung Quốc (0,66 USD/ngày) đã "giúp" giảm tỷ lệ nghèo một cách đáng kể. Theo tính toán của Ngân hàng Phát triển Châu Á, nếu sử dụng tiêu chuẩn 1 USD/ngày thì số lượng người nghèo của Trung Quốc lên tới 230 triệu (ADB, 2003). Đến năm 2003, khoảng gần 50% dân Trung Quốc có mức thu nhập dưới 2 USD/ngày, tương đương với In-đô-nê-xia (55,4%) nhưng vẫn khả quan hơn Ấn-độ (79,9%). (Ngân hàng Thế giới, 2003).
3.Peter Nolan, Trung Quốc trước ngã ba đường (China at the Crossroads), Cambridge: Polity Press, 2004.
4.Murray Scot Tanner, Wall Street Journal số 2/2/2006
5.Will Hutton (2007) The Writing on the Wall: China and the West in the 21st Century, London: Little, Brown.
6.Tỉ lệ ngân sách dành cho y tế của Trung Quốc hiện nay là 1,8%, thấp hơn mức 2% năm 1990. Điều này khiến mục tiêu tăng tỉ lệ chi tiêu cho y tế lên 4,0% vào năm 2010 trở nên không hiện thực.
7.Xếp hạng HDI của Trung Quốc năm 2007 đã tăng lên lại và đứng ở vị trí thứ 81.
8.UNCTAD (2005). World Investment Report.


