Đồng hồ điểm 6:15 sáng và 12:30 trưa, trong sân của Trung tâm chiếu xạ ở phường Xuân Phương, Hà Nội, cán bộ y tế của các bệnh viện sẵn sàng chờ lấy dược chất phóng xạ mang về bệnh viện chẩn đoán ung thư. Ngay từ giờ khắc dược chất mới ra lò, đồng hồ đếm ngược 109 phút đã bắt đầu, nên các cán bộ kỹ thuật và nhân viên y tế luôn phải chạy đua với thời gian.
Khi đồng hồ điểm 6:15 sáng và 12:30 trưa mỗi ngày, Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội lại trở nên nhộn nhịp khi xe từ các bệnh viện lần lượt đến nhận những hộp dược chất phóng xạ mới ra lò và hoàn tất kiểm định chất lượng.
Bên trong những chiếc hộp là 18F-FDG - chất đánh dấu chuyển hóa glucose, khi được tiêm vào cơ thể bệnh nhân và ghi hình bằng máy PET/CT sẽ giúp xác định vị trí và kích thước khối u. Dược chất phóng xạ này còn được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán, đánh giá giai đoạn bệnh, theo dõi đáp ứng xạ trị và phát hiện tái phát của nhiều loại ung thư, bệnh tim mạch và thần kinh.
Tuy nhiên, khác với nhiều loại thuốc thông thường, 18F-FDG có thời gian bán rã chỉ 109,8 phút. Sau khoảng thời gian này, hoạt độ phóng xạ của thuốc giảm đi một nửa. Chu kỳ bán rã ngắn giúp cho FDG sau khi tiêm không tồn tại quá lâu trong cơ thể con người, bệnh nhân không phải lưu lại bệnh viện sau khi chụp chiếu; nhưng ngược lại, nó cũng khiến cho loại dược chất này không thể nhập khẩu hay lưu trữ dài ngày mà phải được sản xuất và sử dụng ngay trong nước.
Và có lẽ ít ai biết rằng, hầu hết nguồn cung cấp dược chất phóng xạ cho các máy PET/CT ở miền Bắc hiện nay đều đến từ Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội, thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam.
Nhân viên của Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội lấy lọ dược chất phóng xạ. Dược chất phóng xạ F18-FDG sau khi sản xuất được đặt vào trong các container chì để bảo đảm an toàn phóng xạ cho các nhân viên y tế. Ảnh: Mỹ Hạnh
Đảm bảo nhu cầu của các bệnh viện
Theo ThS Nguyễn Quang Anh - Trưởng phòng Hóa Phóng xạ, phụ trách dây chuyền sản xuất thuốc FDG tại Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội, hiện nay, Trung tâm là đơn vị duy nhất tại miền Bắc đạt tiêu chuẩn GMP-WHO cung cấp dược chất phóng xạ 18F-FDG và vận hành hai ca sản xuất mỗi ngày vào sáng và trưa để đảm bảo nhu cầu của các bệnh viện.
FDG đã bắt đầu được sản xuất và sử dụng tại Việt Nam từ năm 2009 ở Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Công ty cổ phần Y học Rạng Đông (Hà Nội) và bệnh viện Chợ Rẫy (TP HCM). Đến nay, cả nước có 6 máy cyclotron dùng để sản xuất đồng vị phóng xạ (FDG-18) phục vụ chẩn đoán bệnh, trong đó có 3 máy ở Hà Nội, 1 máy ở Đà Nẵng và 2 máy ở TP HCM [1].
Tuy nhiên, có những thời điểm ở Hà Nội, chỉ có Trung tâm cung cấp dược chất phóng xạ nên đơn vị phải cố gắng cải tiến kỹ thuật, tối ưu hoạt động để tăng số ca sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân.
Các lọ dược chất phóng xạ thành phẩm chuẩn bị mang tới các bệnh viện.
"Chúng ta không thể nhập khẩu 18 F-FDG được vì chu kỳ bán rã của nó rất ngắn, vì vậy cần phải sản xuất tại chỗ. Nếu sản phẩm của chúng tôi giúp chẩn đoán sớm, có thể cứu sống người bệnh hay kéo dài thời gian cho họ thêm vài năm với người thân cũng là đáng quý. Đó là lý do dù khó cỡ nào, chúng tôi vẫn phải cố gắng để sản xuất và cung cấp dược chất phóng xạ bằng được", TS. Đặng Quang Thiệu - nguyên Giám đốc Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội, từng chia sẻ với Tia Sáng sau ngày Trung tâm sản xuất những mẻ đầu vào năm 2023.
Sau khi được cấp chứng nhận Thực hành sản xuất thuốc tốt GMP-WHO vào năm 2020, Trung tâm đã chính thức đưa chiếc máy gia tốc do Hàn Quốc tặng vào vận hành, sản xuất những mẻ dược chất phóng xạ 18F-FDG đầu tiên từ tháng 2/2023. Ban đầu, họ chỉ cung cấp mỗi tuần hai buổi cho Bệnh viện 198, nơi áp dụng các hoạt động chiếu chụp trên máy PET/CT bằng 18 F-FDG. Dần dần, máy gia tốc Cyclotron 13 MeV của Trung tâm đã thực hiện 133 ca sản xuất ngay trong năm đầu tiên, đáp ứng khoảng 50% nhu cầu ở khu vực phía Bắc.
Đến năm 2024, Trung tâm đã có sự phát triển nhanh với 310 ca sản xuất nhằm đáp ứng 90 - 100% nhu cầu của các bệnh viện ở Hà Nội và lân cận.
Sang năm 2025, khi nguồn cung của Trung tâm đã ổn định và một số bệnh viện đã trang bị thêm máy PET/CT, Trung tâm tiếp tục nâng công suất lên hơn 400 ca/năm và đến nay đang cung cấp dược chất phóng xạ cho 11 bệnh viện tại Hà Nội và Hải Dương.
Theo TS. Trần Minh Quỳnh, Phó Giám đốc Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội, nhu cầu về dược chất FDG hiện rất cao. Riêng ở Hà Nội, nhu cầu năm vừa qua là trên 20.000 lượt bệnh nhân và nguồn dược chất của Trung tâm đã cung cấp cho khoảng 17.000 lượt.
Vận chuyển thùng chứa dược chất phóng xạ ra xe của bệnh viện. Ảnh: Mỹ Hạnh
Nếu các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khác như chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI) chỉ cho thấy hình thái tổn thương, ví dụ như một khối u hoặc nốt, mà không rõ lành tính hay ác tính, thì việc chụp PET/CT góp phần tăng cường khả năng phân biệt chính xác hơn tính chất u, từ đó giảm chỉ định sinh thiết không cần thiết. Khả năng quét toàn thân của PET/CT cũng cho phép phát hiện các ổ di căn nhỏ mà các phương pháp khác có thể bỏ sót.
Khi được tiêm vào cơ thể người bệnh, FDG thường tập trung vào một số mô nhất định của tế bào ung thư, sau đó phát tia bức xạ. Máy quét có đầu dò phóng xạ sẽ dò được những nguồn phát này và có thể tính toán khoảng cách từ nguồn phát để xác định vị trí, kích thước khối u.
Chạy đua với thời gian, thiết bị và nhân lực
Dù FDG đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới, tại Việt Nam, việc sản xuất không phải là điều đơn giản.
Theo các chuyên gia, nguyên do là nguồn nhân lực chuyên sâu về dược chất phóng xạ còn rất hạn chế. Lĩnh vực liên ngành này đòi hỏi cán bộ phải đồng thời có kiến thức về hóa học, dược học, vật lý hạt nhân, công nghệ bức xạ, GMP và quản lý chất lượng. Trong khi đó, ở Việt Nam hiện nay số lượng chuyên gia được đào tạo bài bản còn chưa nhiều; một cán bộ muốn tham gia độc lập vào nghiên cứu, sản xuất và kiểm soát chất lượng dược chất phóng xạ cũng cần được đào tạo trong nhiều năm.
Nghiên cứu tạo ra FDG mới tương đương đi được khoảng nửa chặng đường. Để được cấp phép cung cấp ra thị trường, Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội phải mất 8 năm để hoàn thành yêu cầu của các cơ quan chức năng, từ xây dựng hệ thống sản xuất đạt chuẩn GMP (không chỉ sản phẩm mà toàn bộ cơ sở sản xuất, phòng sạch, hot cell, cyclotron, module tổng hợp, hệ thống kiểm nghiệm và nhân sự đều phải đáp ứng các yêu cầu) đến được cơ quan quản lý thẩm định, cấp phép để bảo đảm mỗi liều FDG sử dụng cho người bệnh đều an toàn và đạt chất lượng.
Một container dùng để đựng dược chất phóng xạ. Ảnh: Mỹ Hạnh
Đó là chưa nói đến việc hệ thống máy gia tốc hạt cyclotron và các hệ thống tổng hợp tự động cũng đòi hỏi bảo dưỡng chuyên sâu.
"Điều khó khăn nhất không phải là tổng hợp được FDG", các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội chia sẻ. "Việc xây dựng một quy trình sản xuất ổn định, lặp lại được, đáp ứng đồng thời yêu cầu chất lượng dược phẩm, GMP, an toàn bức xạ và cung ứng đúng thời gian cho người bệnh mới là thách thức kỹ thuật lớn nhất."
Do FDG có thời gian bán rã rất ngắn, theo ThS Nguyễn Quang Anh, toàn bộ quá trình sản xuất, kiểm nghiệm, xuất xưởng và vận chuyển phải được thực hiện rất nhanh chóng, trong đó quy trình kiểm tra chất lượng thuốc phải được thực hiện trong vòng 30 phút để đảm bảo hoạt độ của dược chất vẫn đáp ứng yêu cầu khi đến tay các bệnh viện.
Đội ngũ kỹ thuật của Trung tâm thường bắt đầu ca làm việc từ 1-2 giờ sáng để kịp sản xuất và giao thuốc cho các bệnh viện vào lúc 6 giờ 15.
Không chỉ vậy, mỗi lô thuốc đều phải đáp ứng tổng cộng 9 tiêu chuẩn, chỉ cần một trong số các tiêu chuẩn này không đạt yêu cầu thì toàn bộ lô dược chất sẽ phải hủy bỏ. "Bất kỳ sự cố nào của cyclotron, module tổng hợp, hệ thống lọc vô trùng, thiết bị kiểm nghiệm hoặc quy trình GMP đều có thể dẫn đến mất cả lô sản phẩm", các nhà nghiên cứu cho biết.
"Rất may mắn là đến nay, Trung tâm đã thực hiện hơn 1.000 ca sản xuất nhưng chưa có một lô nào lỗi phải hủy hoặc không cung cấp được cho bệnh viện", ông Quang Anh chia sẻ.
Bên trong phòng điều khiển máy gia tốc. Ảnh: Mỹ Hạnh
Trên thế giới, các cơ sở vận hành nhiều nhất thường cũng chỉ chạy khoảng 150 ca một năm. "Có thể nói là máy gia tốc của trung tâm đã hoạt động đến 200 - 300% công suất. Điều này có được là nhờ đội ngũ kỹ thuật của trung tâm đã làm chủ được công nghệ, luôn đảm bảo hệ thống thiết bị hoạt động ổn định, hết công suất mà chưa bao giờ xảy ra một lỗi trục trặc kỹ thuật nào gây gián đoạn việc cung ứng thuốc."
Hướng đến các dược chất phóng xạ thế hệ mới
Với tiền đề sản xuất thành công dược chất 18F-FDG, hiện tại đơn vị đang nghiên cứu và phát triển thêm một số dược chất phóng xạ mới nhằm mở rộng khả năng chẩn đoán và điều trị.
Trong đó, Trung tâm định hướng tập trung vào hai nhóm sản phẩm chính. Nhóm thứ nhất là các dược chất phóng xạ PET thế hệ mới như 18F-PSMA cho ung thư tuyến tiền liệt, 18F-FLT đánh giá tăng sinh tế bào ung thư, 18F-FAPI ghi hình PET/CT các khối u thông qua đích là protein FAP,... và nhóm thứ hai là các thuốc phóng xạ điều trị ung thư như Lu-177 PSMA-617 cho ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn tiến triển, Lu-177 DOTATATE điều trị khối u thần kinh nội tiết,...
Đồng thời, Trung tâm còn quan tâm đến các dược chất phóng xạ đánh dấu kháng thể và phân tử sinh học phục vụ y học chính xác, chẳng hạn các hợp chất gắn Zr-89 để hỗ trợ lựa chọn bệnh nhân trước điều trị bằng thuốc sinh học.
"Mỗi liều thuốc được sản xuất là một cơ hội cho bệnh nhân", ông Nguyễn Thế Vinh - Giám đốc Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội, nói. "Việc vận hành tốt, duy trì sản xuất ổn định dược chất phóng xạ vừa là trách nhiệm, vừa là sứ mệnh vì không thể nào để việc cung cấp dược chất cho bệnh viện bị gián đoạn".
Kết thúc một ca làm việc, khi những container bằng chì chứa thuốc đã yên vị trên các chuyến xe chuyên dụng tỏa đi khắp các bệnh viện, các cán bộ kỹ thuật mới có thể thở phào. Với họ, mỗi lọ thuốc được bàn giao an toàn và đạt chất lượng chính là một hy vọng mới được thắp lên cho người bệnh trong cuộc chiến sinh tử với ung thư.
---
Chú thích:
[1] Dự thảo Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, https://vibonline.com.vn/du_thao/quy-hoach-phat-trien-ung-dung-nang-luong-nguyen-tu-2021-2030