Chỉ vài tháng nữa, Liên minh châu Âu sẽ đẩy mạnh triển khai quy định (EU) 2023/2842 nhằm sửa đổi toàn diện hệ thống kiểm soát thủy sản, tập trung vào số hóa dữ liệu, tăng cường truy xuất nguồn gốc và đẩy mạnh biện pháp chống khai thác bất hợp pháp (IUU). Là một trong những nhà cung cấp lớn của thị trường EU, các doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ cần chuyển từ mô hình truy xuất nội bộ sang một hệ thống dữ liệu liên thông toàn chuỗi, đảm bảo thông tin đồng bộ giữa tàu cá, cơ sở thu mua, kho lạnh, nhà máy chế biến và hồ sơ xuất khẩu khi hệ thống quản lý điện tử bắt buộc CATCH (Catch Certification Scheme) của EU đi vào vận hành. Điều này cũng có nghĩa là các thông tin truy xuất cần được ghi lại và truyền bằng hình thức số hóa và sử dụng các chuẩn quốc tế hoặc toàn cầu nhằm đảm bảo khả năng tương tác giữa các hệ thống truy xuất nguồn gốc khác nhau trong chuỗi cung ứng.
Trong một chia sẻ với Báo KH&PT bốn năm trước, ông Bùi Bá Chính - quyền Giám đốc Trung tâm Mã số Mã vạch Quốc gia (Bộ KH&CN) cho biết, các hệ thống truy xuất nguồn gốc ở Việt Nam hiện nay thường không có khả năng tham gia vào hệ thống truy xuất nguồn gốc khác do chưa thống nhất sử dụng các hệ thống mã phân định toàn cầu theo tiêu chuẩn của Tổ chức mã số mã vạch quốc tế GS1, mà thường sử dụng các mã phân định có cấu trúc tự đặt chỉ sử dụng được nội bộ. Ngoài ra, do không có sự quản lý và điều phối chung về cấu trúc mã phân định nên trường hợp trùng mã giữa các hệ thống truy xuất nguồn gốc khác nhau rất dễ xảy ra, khiến người tiêu dùng nghi ngờ về tính xác thực sản phẩm của các hệ thống này.
Bốn năm sau, dù đã có thêm các tiêu chuẩn quốc gia nhằm tạo ra nền tảng giúp chuẩn hóa việc triển khai truy xuất nguồn gốc, cũng như đã đưa vào vận hành Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm hàng hóa quốc gia, tình hình dường như vẫn chưa có nhiều thay đổi.
Truy xuất nguồn gốc thực phẩm qua điện thoại. Ảnh: Mỹ Hạnh.
Dữ liệu phân mảnh và phi chuẩn
Truy xuất nguồn gốc không chỉ là công cụ quản lý mà còn là chìa khóa mở ra cánh cửa niềm tin, giúp củng cố niềm tin từ người tiêu dùng và kết nối giữa nhà nước, doanh nghiệp, và người mua cuối cùng. Quy trình này cũng giúp minh bạch hóa chuỗi cung ứng (chẳng hạn như nhận biết sản phẩm có gây mất rừng hay không), bảo vệ quyền lợi và sức khỏe người tiêu dùng, đồng thời nâng cao giá trị, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam trên thị trường trong nước và thế giới.
Nếu như khoảng 7-8 năm trước, mã QR là công cụ truy xuất nguồn gốc duy nhất mà doanh nghiệp sử dụng và người tiêu dùng biết đến, thì hiện nay đã có thêm nhiều giải pháp mới hiện đại hơn như Blockchain (công nghệ lưu trữ dữ liệu có tính toàn vẹn và tính bất biến), chip RFID (cung cấp tính bảo mật rất cao và rất khó làm giả),... Song, sự thành công của quy trình truy xuất nguồn gốc không nằm ở mỗi việc áp dụng công nghệ hiện đại.
Một trong những vấn đề đau đầu nằm ở chỗ: dữ liệu của Việt Nam phân mảnh và không theo tiêu chuẩn chung nào. Theo ông Nguyễn Đức Lê (Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương), hiện tại, có khoảng gần 30 doanh nghiệp công nghệ tham gia cung cấp giải pháp truy xuất nguồn gốc, tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp lại có cấu trúc dữ liệu khác nhau dẫn đến việc các hệ thống không "nói chuyện" được với nhau. "Hiện nay, có doanh nghiệp áp dụng theo tiêu chuẩn GS1 nhưng có người thì lại theo chuẩn của mình, dẫn đến việc chuỗi cung ứng có quá nhiều ‘ngôn ngữ’ để giao tiếp được với nhau. Và khi chúng ta đưa chúng vào một hệ thống mang tầm quốc gia thì sẽ dẫn đến những khó khăn trong việc chuyển đổi, nạp dữ liệu hay đảm bảo tính duy nhất của việc định danh sản phẩm", ông Nguyễn Đức Lê cho biết tại diễn đàn "Phát triển, ứng dụng công nghệ chiến lược cho chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc: Đòn bẩy kiến tạo tương lai số cho Việt Nam hội nhập" do Báo VOV và Viện Công nghệ thông tin (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) tổ chức vào giữa tháng 11.
Chưa kể đến, chất lượng dữ liệu đầu vào cũng còn thấp. Theo ông Nguyễn Bảo Trung - Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cơ bản dữ liệu là do doanh nghiệp chủ động nhập, nhưng sự tham gia xác thực của các cơ quan quản lý nhà nước (ví dụ Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đối với các dữ liệu này là rất ít - một điều khiến cho dữ liệu truy xuất chưa chắc đã đáng tin cậy.
Không chỉ vậy, do truy xuất nguồn gốc là một hoạt động được khuyến khích chứ không phải bắt buộc, nên mức độ số hóa hiện vẫn rất rời rạc - điều mà ông Nguyễn Đức Lê ví như các "ốc đảo số". "Các hệ thống truy xuất nguồn gốc được làm ở rất nhiều nơi: có nơi làm ở bộ, có nơi làm ở tỉnh, có nơi làm ở sở, có nơi chỉ làm ở doanh nghiệp. Cổng truy xuất quốc gia thì hiện nay có hệ thống nối vào, có hệ thống không nối vào, dẫn đến dữ liệu không lưu thông, không thông suốt, và các công nghệ thì mang tính chất không đồng nhất", ông Nguyễn Đức Lê cho biết.
Sự phân mảnh và không theo tiêu chuẩn chung của dữ liệu chưa phải là vấn đề lớn nhất. Vấn đề còn nằm ở cấu trúc sản xuất quá nhỏ lẻ. Chẳng hạn, theo báo cáo "Nông hộ trong chuỗi cung cà phê, cao su và gỗ rừng trồng: Vai trò và khả năng đáp ứng Quy định chống mất rừng của Liên minh Châu Âu" mới được tổ chức Forest Trends công bố gần đây, đa số nông hộ canh tác cao su, cà phê và gỗ trên diện tích nhỏ và manh mún, thường sở hữu nhiều mảnh đất khác nhau.
Không ít mảnh đất trong số đó chưa có đầy đủ giấy tờ pháp lý, khiến việc chứng minh tính hợp pháp theo yêu cầu của Quy định chống mất rừng của EU (EUDR) gặp nhiều trở ngại (Quy định của EU đòi hỏi phải cung cấp tọa độ địa lý từng lô đất sản xuất, nhưng phần lớn nông hộ hiện chưa có thông tin này). Thách thức còn đến từ cấu trúc chuỗi cung ứng phức tạp, với nhiều bên tham gia ở cùng một cấp (ví dụ cấp hộ, cấp đại lý) và ở các cấp khác nhau (ví dụ đại lý cấp 1, 2, 3...). "Điều này làm cho việc truy xuất các hoạt động của chuỗi hết sức khó khăn, trong nhiều trường hợp là không thể", báo cáo cho biết.
Cần tăng cường sự kết nối
"Đã đến lúc cơ quan quản lý nhà nước phải đứng ra làm công tác truy xuất", ông Nguyễn Đức Lê nhận định. Ông cho rằng, các bộ ngành cần phải là đầu mối để truy xuất theo lĩnh vực trách nhiệm và phân công, thay vì để các công ty tự làm. Nền tảng dữ liệu quốc gia không phải là để cho các doanh nghiệp tự đổ về, mà phải thông qua các bộ lọc là các bộ ngành. "Sau khi đưa dữ liệu về trung tâm dữ liệu của bộ ngành, các đầu mối này sẽ sử dụng các công nghệ như AI, Big Data để chuyển dữ liệu sạch, sống, đầy đủ về trung tâm dữ liệu quốc gia", ông Nguyễn Đức Lê đề xuất. Điều này sẽ góp phần giải quyết được bài toán có quá nhiều dữ liệu đổ về của cả đất nước.
Bên cạnh đó, cần có cơ chế chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các lực lượng chức năng với nhau và giữa các nhà cung cấp nền tảng để tạo ra một dữ liệu liên thông, theo ông Đỗ Hồng Trung - Phó Chánh văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban chỉ đạo 389 quốc gia). "Cần có sự ngồi lại giữa các nhà cung cấp nền tảng và nhà làm chính sách (đơn vị quản lý nhà nước) để tạo ra sự thuận lợi tối đa trong quá trình vận hành các nền tảng này", ông Trung nói. Ông Nguyễn Bảo Trung cũng nhấn mạnh, phải kết nối được với Cổng truy xuất nguồn gốc quốc gia để có thể truy xuất được ở cả quốc tế và phải kết nối được với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành của các bộ ngành, vì đây chính là chìa khóa để có được sự xác thực của cơ quan quản lý nhà nước. "Các cơ sở dữ liệu chuyên ngành của các cơ quan quản lý nhà nước phải được hoàn thiện thì cơ quan này mới tham gia được vào việc xác thực thông tin dữ liệu trong chuỗi cung ứng. Và phải có sự xác thực của cơ quan quản lý nhà nước thì thông tin về truy xuất nguồn gốc mới có giá trị, mới nâng cao được chất lượng", ông Nguyễn Bảo Trung nói và cho biết, sắp tới sẽ có Nghị định của Chính phủ quy định về hoạt động định danh và truy xuất nguồn gốc sản phẩm hàng hóa, quy định rất rõ trách nhiệm cho từng bộ ngành.
Từ góc độ công nghệ, ông Nguyễn Đức Lê khuyến nghị doanh nghiệp: nếu có điều kiện thì hãy chuyển sang chip. Nếu chưa thể, ít nhất cũng dùng mã QR biến đổi để tăng mức độ bảo mật và chống làm giả. "Qua quá trình đồng hành với các doanh nghiệp công nghệ và các doanh nghiệp có truy xuất nguồn gốc, chúng tôi đều thấy rằng chúng ta mới đang chạy theo các giải pháp trước mắt, trong khi vấn đề bảo mật mã hóa và sử dụng vật mang dữ liệu nào cho tốt thì chúng ta vẫn chưa quan tâm lắm", ông Lê cho hay. Hiện nay, chúng ta đang dựa quá nhiều vào mã QR tĩnh, người tiêu dùng quét vào chỉ thấy một trang giới thiệu sản phẩm, hoàn toàn không biết được hành trình của hàng hóa, tọa độ, thời gian, hay ai chịu trách nhiệm - những thông tin cốt lõi của truy xuất. "Mã QR lại quá dễ bị sao chép, và nhiều nơi còn dùng mã vạch GS1 đời đầu vốn chỉ phục vụ kiểm kho, chứ không hỗ trợ truy xuất nguồn gốc. Còn những công nghệ như mã hóa, chữ ký số, hay blockchain thì khó mà áp dụng hiệu quả lên mã QR tĩnh", ông Nguyễn Đức Lê cho biết.
Nhìn xa hơn, nếu muốn đáp ứng được các quy định truy xuất đang ngày càng ngặt nghèo hơn của quốc tế, chẳng hạn như quy định truy xuất nguồn gốc của EUDR với các lĩnh vực như cao su, cà phê và gỗ, theo Forest Trends, các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và nông hộ cần có sự thay đổi đồng bộ từ chính sách đến các hoạt động thực hành quản lý chuỗi cung từ khâu nguyên liệu đầu vào. "Chính phủ cần xây dựng bản đồ tài nguyên rừng, nắm bắt được hiện trạng sử dụng đất làm cơ sở để đánh giá mức độ tuân thủ với các yêu cầu pháp lý và rủi ro về các hoạt động liên quan tới rừng. Các doanh nghiệp cần tổ chức lại chuỗi cung ứng của mình theo hướng đơn giản hóa các hoạt động trong chuỗi cung nhằm cho phép thực hiện các hoạt động truy xuất,...", một giải pháp cụ thể trong lĩnh vực cao su, cà phê và gỗ mà báo cáo của Forest Trends đề xuất.