Bởi ở đây hội tụ nhiều xu hướng quan trọng của thị trường lao động tương lai: tính linh hoạt đi kèm sự bấp bênh, sự dịch chuyển rủi ro về phía người lao động, và một phương thức quản lý lao động mới dựa trên dữ liệu và thuật toán.
Tình trạng đông đảo lao động nền tảng số đang bị vắt kiệt sức lực trong guồng quay năng suất do thuật toán điều chỉnh, những tranh cãi quanh các vụ tài xế xe công nghệ bị hành hung, xúc phạm hay bị khóa tài khoản cứ bùng lên rồi nhanh chóng lắng xuống sau vài tuần... cho thấy pháp luật dường như chưa theo kịp sự biến đổi nhanh chóng của quan hệ lao động trong nền kinh tế số.
Từ trải nghiệm nghiên cứu xã hội học của tôi, vấn đề không chỉ nằm ở sự chậm trễ của pháp luật trong việc có các khung khổ bảo vệ quyền lợi của người lao động, mà sâu hơn là ở cách chúng ta đã nhìn nhận, và có phần ngộ nhận, về chính bản chất của loại hình lao động này trong suốt một thời gian dài.
Nền tảng số chính là hạ tầng của xã hội hiện đại
Chỉ trong vài năm, các nền tảng lao động số đã trở thành một phần không thể thiếu của đời sống đô thị Việt Nam. Trong quá trình đi thực địa và phỏng vấn tại TP.HCM*, tôi dần nhận ra rằng các nền tảng này không còn chỉ là "dịch vụ", mà đã trở thành một dạng hạ tầng vô hình âm thầm chi phối mạnh mẽ nhịp sống hàng ngày. Từ đặt xe, giao hàng cho tới gia sư hay giúp việc nhà..., các nền tảng lao động số phát triển bùng nổ ở các thành phố lớn, nơi tầng lớp thị dân trẻ chiếm đa số, yêu thích những trải nghiệm mới mẻ và thích ứng nhanh với thay đổi công nghệ.
Ở góc nhìn xã hội học, điều này này phản ánh một sự thay đổi mang tính cấu trúc về cách con người tiêu dùng, làm việc và tổ chức đời sống đang được thiết kế lại xung quanh nền tảng số.
Về mặt quy luật lịch sử và nguyên tắc, một hình thức lao động, với quan hệ lao động hoàn toàn mới luôn thách thức hệ thống luật pháp cũ. Ảnh: Hoàng Việt
Trong thị trường các ứng dụng nền tảng số giờ đã vươn lên quy mô tỷ đô, sự phát triển của các nền tảng xe công nghệ là ấn tượng hơn cả. Chỉ riêng Grab, Be và XanhSM được cho là đã có gần 700.000 tài xế xe ôm hoạt động vào năm 2024.
Trong các diễn ngôn phổ biến trên truyền thông, xe ôm công nghệ được khắc họa hưởng lợi từ sự ra đời của mô hình kinh tế chia sẻ tiến bộ và nhân văn, "đối tác bình đẳng". Dường như xe ôm công nghệ trở thành những biểu tượng của lực lượng sản xuất tiên tiến trong nền kinh tế số.
Linh hoạt về hình thức nhưng lệ thuộc vào cấu trúc nền tảng số
Không thể phủ nhận lợi ích mà các nền tảng lao động số đã đem lại, trong việc tạo ra cơ hội việc làm cho nhiều người. Trong nhiều cuộc phỏng vấn, tôi gặp không ít người coi đây là "phao cứu sinh" trong những thời điểm mất việc hoặc cần xoay xở thu nhập. Nhưng khi đi sâu vào dữ liệu và trải nghiệm của người lao động, chúng tôi thấy rõ ràng rằng đi kèm với sự linh hoạt trên hình thức là sự bất ổn, mặc dù người lao động vẫn có ông chủ và bị thuật toán quản lý không khác gì công nhân.
Nghiên cứu của chúng tôi về xe ôm công nghệ ở TP.HCM cho thấy một thực trạng khác. Trái ngược với những diễn ngôn lạc quan về xe ôm công nghệ, các tài xế tham gia vào nghiên cứu phải làm việc trong điều kiện bị giám sát chặt chẽ bằng thuật toán, nhưng đồng thời lại hết sức bấp bênh. Trong khảo sát mà chúng tôi thực hiện vào năm 2021, thu nhập trung bình của các tài xế làm việc toàn thời gian, sau khi đã trừ đi chi phí, là 9.2 triệu đồng/tháng. (Nên nhớ là thời điểm đó số lượng xe ôm chưa bùng nổ nhiều bằng mấy năm sau, chưa dẫn tới sự bão hòa lái xe – nhu cầu đi lại). Đó là chưa hề trừ đi chi phí người lao động hoàn toàn tự trang bị phương tiện lao động, tự chịu chi phí khấu hao.
Để đạt được mức thu nhập này, họ phải làm việc trung bình 11 - 12 giờ/ngày, 28,03 ngày/tháng, tức là làm thêm đến 103,1 giờ mỗi tháng. Như vậy ngoài thời gian làm việc tiêu chuẩn theo luật định, người lao động còn làm thêm tương đương với một nửa công việc toàn thời gian nữa. Tính cả năm, thời gian làm thêm gấp 4 - 6 lần mức cho phép trong luật định. Một con số khủng khiếp mà những người nghiên cứu lao động như chúng tôi cũng không hình dung nổi. Vì khi chỉ quay cuồng trong công việc, cuộc sống của người lao động thực sự bị bào mòn, toàn bộ thời gian chỉ dành cho công việc và các nhu cầu cơ bản.
Như vậy, mức thu nhập này không phản ánh một công việc "hiệu quả", mà phản ánh một cường độ lao động rất cao. Nếu làm đúng giờ theo Luật Lao động, thu nhập của họ thấp hơn mức lương đủ sống. Điều này cho thấy một nghịch lý quan trọng là dù người lao động làm việc toàn thời gian nhưng vẫn không đạt mức sống tối thiểu, một dấu hiệu điển hình của bất ổn lao động trong các nền kinh tế linh hoạt.
Không chỉ thấp, thu nhập của tài xế xe ôm công nghệ còn dễ ảnh hưởng do các điều chỉnh chính sách từ phía nền tảng, đánh giá của khách hàng và biến động thị trường. Nếu so với lao động truyền thống, đây là một khác biệt mang tính cấu trúc, khi rủi ro không còn được chia sẻ giữa doanh nghiệp và người lao động, mà được chuyển xuống cho từng cá nhân người lao động.
Điều các nhà nghiên cứu xã hội chúng tôi quan tâm nhất ở đây là các khác biệt hoàn toàn và có tính cấu trúc so với lao động truyền thống. Nếu nhìn tổng thể, đây không phải là vấn đề của một nghề cụ thể, mà là biểu hiện của một dạng quan hệ lao động mới - tính linh hoạt đi kèm với sự bấp bênh.
Hình thức quản lý mới nhưng chênh lệch quyền lực cũ
Bên cạnh mức thu nhập hay khả năng tự chủ của người lao động, điều khiến giới nghiên cứu xã hội chúng tôi đặc biệt quan tâm bóc tách cấu trúc của hình thức lao động mới này.
Về mặt quy luật lịch sử và nguyên tắc, một hình thức lao động, với quan hệ lao động hoàn toàn mới luôn thách thức hệ thống luật pháp cũ, vốn được xây dựng dựa trên các quan hệ lao động, hiểu biết về bản chất lao động trong quá khứ.
Đồng phục xanh của các tài xế công nghệ đã trở thành hình ảnh thường gặp ở tất cả mọi ngõ ngách thành phố. Các nền tảng số đã trở thành một phần hạ tầng âm thầm tác động vào nhịp sống đô thị. Ảnh: Hoàng Việt
Do đó, với các nhà nghiên cứu, việc bóc tách rõ ràng hình thức quản lý lao động, quan hệ lao động hoàn toàn mới này sẽ đóng góp vào việc đưa ra các khung khổ mới về quản lý lao động.
Điều đầu tiên bóc tách về quan hệ lao động "tự chủ và bình đẳng"-thực ra chỉ tồn tại trên lý thuyết. Vì phần lớn tài xế chạy xe ôm như là sinh kế chính, thậm chí là duy nhất, nên họ có rất ít khả năng lựa chọn trong việc quyết định có làm việc hay không, làm việc trong bao lâu, và chấp nhận cuốc xe hay đơn hàng nào. Sự yếu thế, không có khả năng thương lượng với nền tảng, đã khiến cho các tài xế công nghệ chỉ có thể chấp nhận các điều khoản và điều kiện mà nền tảng số đưa ra hoặc nghỉ luôn.
Thứ hai, quá trình lao động của các "đối tác tài xế" luôn chịu sự quản lý chặt chẽ của các nền tảng số. Chỉ có điều là sự quản lý này ít có sự tham gia bởi những "đốc công" bằng xương bằng thịt. Ở các nền tảng số, việc điều phối, chỉ đạo, giám sát, đánh giá và kỷ luật lao động chủ yếu diễn ra thông qua công nghệ. Các công cụ như hệ thống định vị toàn cầu (GPS), nhận diện sinh trắc học, theo dõi thời gian thực và ghi nhận hành vi trên ứng dụng, cho phép các nền tảng số nhận diện, kiểm soát và thu thập dữ liệu về vị trí, thời gian và hiệu suất làm việc của người lao động. Từ các dữ liệu này (tỷ lệ nhận, hoàn thành và huỷ chuyến, đánh giá của khách hàng, thời gian làm việc, lộ trình của tài xế...), các hệ thống tự động dựa trên thuật toán sẽ tiến hành phân bổ cuốc xe và đơn hàng, ấn định giá cả dịch vụ và quyết định thưởng–phạt đối với các tài xế. Điểm quan trọng ở đây là thuật toán không chỉ là công cụ kỹ thuật, mà đang đóng vai trò như một "cơ chế quản trị lao động" mới.
Như vậy, yếu tố kiểm soát lao động không mất đi ở các nền tảng xe công nghệ. Nó chỉ chuyển từ hình thức này sang hình thức khác: từ kiểm soát trực tiếp, hữu hình như trong nhà máy sang kiểm soát qua công nghệ và bằng thuật toán. Hình thức thứ hai tinh vi hơn, khó nhận biết hơn nhưng không kém phần chặt chẽ và hiệu quả. Như một tài xế công nghệ đã nói với chúng tôi: "Nói thật, mình phải khen Grab. Họ nghĩ ra được những cái làm anh em [tài xế] lo sợ, bắt anh em phải tuân theo và gần như thay đổi cách hành xử của mỗi người."
Quản lý bằng thuật toán đặt các tài xế xe ôm công nghệ vào tình trạng rất bất lợi vì mọi quy trình nhân sự đều diễn ra trong "hộp đen." Các tài xế chỉ có thể đoán lờ mờ rằng khối lượng công việc và mức thu nhập của họ tuân theo những quy luật nào đó. Sự thiếu minh bạch này cùng với các cơ chế thưởng–phạt tự động, bao gồm cả khoá tài khoản, khiến họ thường xuyên phải nỗ lực làm việc hết mình và tuân thủ chặt chẽ các quy trình, quy tắc và tiêu chuẩn của nền tảng số. Không có chỗ cho tham vấn, giải trình hay khiếu nại. Không có sự xem xét đối với hoàn cảnh cụ thể hay cảm xúc cá nhân.
Nếu nhìn từ bề mặt, đây là một mô hình linh hoạt và hiện đại nhưng nếu đi sâu vào cấu trúc lao động, nó lại vẫn mang các đặc điểm quen thuộc của quan hệ lao động truyền thống. Điều khác biệt chỉ nằm ở công cụ và hình thức tổ chức trên nền tảng số, cách thức sử dụng công cụ số để quản lý từng giây đồng hồ, chứ không phải ở bản chất cấu trúc quyền lực giữa người chủ nền tảng và người lao động.
Chính vì vậy, lao động nền tảng trở thành một chủ đề nghiên cứu quan trọng. Nghiên cứu nó trong bối cảnh xu hướng lao động linh hoạt, dưới các nền tảng số đang tăng lên rõ rệt, sẽ cho chúng ta hình dung rõ hơn về cho tương lai của lao động nơi các xu hướng lớn đang diễn ra cùng lúc và ở cường độ cao. Đó là: sự linh hoạt hoá việc làm đi kèm với bấp bênh; sự dịch chuyển rủi ro từ doanh nghiệp sang cá nhân người lao động; sự gia tăng quyền lực của các nền tảng thông qua kiểm soát dữ liệu; sự thay thế quản lý trực tiếp bằng quản lý thuật toán; và sự suy yếu của các thiết chế bảo vệ lao động truyền thống.
Đây cũng chính là điểm xuất phát cho những tranh luận pháp lý và chính sách được trình bày trong kỳ tiếp theo.
---
Chú thích: TS Đỗ Hải Hà chủ trì nghiên cứu: Behind the Myth of "Business Partnership": Vulnerable App-based Drivers in Urgent Need of Legal Protection in Vietnam xuất bản năm 2024 và là đồng chủ trì của báo cáo Fairwork Vietnam Ratings 2023: Labour Standards in the Platform Economy.