Tự chủ đại học là một nguyên tắc quan trọng của quản trị giáo dục đại học. Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, đặt vấn đề tự chủ trong một cấu trúc quản trị mới: kết thúc hoạt động của hội đồng trường tại các cơ sở giáo dục đại học công lập và xác định vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của tổ chức Đảng tại các cơ sở này.
Để đánh giá ý nghĩa của sự thay đổi, cần nhìn tự chủ trên hai bình diện có liên hệ chặt chẽ. Thứ nhất là quyền của cơ sở giáo dục đại học trong quan hệ với Nhà nước và các chủ thể quản lý bên ngoài (tự chủ thể chế). Thứ hai là cách quyền hạn và trách nhiệm được phân bổ trong nội bộ nhà trường, giữa các chủ thể lãnh đạo, quản lý và cộng đồng học thuật (tự chủ nội bộ). Trong cả hai bình diện, câu hỏi cuối cùng vẫn là cơ chế tự chủ có giúp nhà trường thực hiện tốt sứ mệnh của mình hay không.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam trong giờ thực hành. Ảnh: VNUA
Tự chủ thể chế và sự phân định quyền hạn trong nhà trường
Việc kết thúc hoạt động của hội đồng trường có thể được nhìn nhận từ những bất cập trong thực tiễn vận hành thiết chế này, chẳng hạn chồng lấn chức năng hoặc thiếu thực quyền. Tuy nhiên, giải quyết những bất cập của một thiết chế là một việc; bảo đảm rằng các chức năng quản trị thiết yếu của thiết chế ấy vẫn được thực hiện đầy đủ sau khi nó được bãi bỏ lại là một việc khác.
Vì thế, sau khi không còn hội đồng trường, cần làm rõ các chức năng như giám sát, đại diện các bên liên quan và yêu cầu giải trình... được phân bổ ra sao, ai có quyền chất vấn và bằng cách nào các quyết định quan trọng được giám sát.
Trong khuôn khổ quản trị mới, cần phân định rõ vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng, trách nhiệm quản lý và điều hành của người đứng đầu cơ sở giáo dục, cùng thẩm quyền chuyên môn của các tập thể học thuật. Sự phân định này phải đủ minh bạch để trách nhiệm không bị chồng lấn hoặc bỏ trống, và để việc giải trình không chỉ diễn ra từ nhà trường với cơ quan quản lý bên ngoài mà còn giữa các chủ thể bên trong trường.
Ở bình diện nội bộ, giảng viên và nhà khoa học giữ vị trí đặc biệt. Họ là lực lượng trực tiếp thực hiện các chức năng cốt lõi của đại học: giảng dạy, nghiên cứu, sáng tạo và truyền bá tri thức. Bởi vậy, quyền tham gia của cộng đồng học thuật vào những quyết định chuyên môn - như chương trình đào tạo, chuẩn học thuật, đánh giá kết quả học tập, định hướng nghiên cứu và tiêu chuẩn tuyển dụng, bổ nhiệm, thăng tiến - cần được xác lập trên cơ sở năng lực và trách nhiệm nghề nghiệp, chứ không chỉ như một hình thức tham vấn đại diện.
Một phương án đáng tham khảo từ kinh nghiệm quốc tế là cơ chế đại diện học thuật (dưới hình thức Hội đồng Khoa học) do giảng viên lựa chọn từ các khoa và lĩnh vực khác nhau. Đại diện học thuật được tiếp cận thông tin, tham gia từ đầu vào việc xây dựng chính sách chuyên môn và có quyền công khai khuyến nghị. Khi người có thẩm quyền quyết định khác với khuyến nghị chuyên môn, cần có trách nhiệm giải thích căn cứ của quyết định và cơ chế giải quyết bất đồng. Sự đại diện này cũng không có nghĩa mọi vấn đề học thuật đều được quyết định bằng biểu quyết đa số, bởi phán đoán chuyên môn còn phải dựa vào năng lực và trách nhiệm của những người tham gia.
Bên cạnh thẩm quyền, tự chủ nội bộ cần những điều kiện bảo đảm để giảng viên có thể thực hiện quyền của mình: bảo vệ tự do học thuật và việc nêu ý kiến chuyên môn thiện chí, có quy trình xử lý khiếu nại và xung đột lợi ích, đồng thời ghi nhận công việc tham gia quản trị học thuật trong trách nhiệm nghề nghiệp. Nếu thiếu những điều kiện này, quyền tham gia dù được quy định trên giấy vẫn có nguy cơ trở thành hình thức.
Nói tóm lại, cần xác lập nguyên tắc chia sẻ quyền quản trị học thuật: Đảng ủy xác lập định hướng trong phạm vi chức năng; một thiết chế quản trị có thành phần đa dạng quyết nghị về chiến lược và giám sát; hiệu trưởng điều hành và chịu trách nhiệm về kết quả; cộng đồng học thuật có quyền tự quản đáng kể trong các vấn đề chuyên môn thông qua Hội đồng Khoa học (nhưng với thẩm quyền rộng hơn tham vấn).
Sinh viên Đại học Y Hà Nội. Ảnh: Đại học Y Hà Nội
Quyền tự chủ để theo đuổi những sứ mệnh khác nhau
Tự chủ đại học cũng đặt ra câu hỏi về mối quan hệ giữa mục tiêu chung của hệ thống và sự khác biệt về sứ mệnh của từng trường. Mọi cơ sở giáo dục đại học đều phải đáp ứng những chuẩn nền tảng về chất lượng đào tạo, liêm chính học thuật, minh bạch tài chính và bảo vệ người học. Nhưng ngoài các chuẩn chung, không thể mặc nhiên dùng một bộ chỉ tiêu thành tích giống nhau để đánh giá những trường có mục tiêu phát triển khác nhau.
Có trường định hướng nghiên cứu, có trường tập trung đào tạo nhân lực ứng dụng, có trường đảm nhận những nhiệm vụ đặc thù của địa phương hoặc quốc gia. Nếu chỉ ưu tiên những kết quả dễ đếm như số bài báo, quy mô tuyển sinh hoặc thứ hạng, cơ chế đánh giá có thể khiến các trường chạy theo những thành tích không phản ánh đầy đủ đóng góp của mình. Khi đó, trường đào tạo nhân lực ứng dụng có thể bị đánh giá thấp so với trường nghiên cứu; trường phục vụ nhu cầu thiết yếu của một địa phương hoặc ngành có thể bị xem là kém hiệu quả vì quy mô nhỏ hoặc ít tạo doanh thu.
Thay vì thế, với trường nghiên cứu, cần quan tâm chất lượng và ảnh hưởng của nghiên cứu, đào tạo sau đại học, phát triển đội ngũ và đóng góp tri thức. Với trường thiên về ứng dụng, cần chú ý năng lực nghề nghiệp của người học, quan hệ với nơi sử dụng lao động, khả năng chuyển giao công nghệ và đáp ứng nhu cầu nhân lực. Với trường phục vụ nhiệm vụ địa phương hoặc quốc gia, cần đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, khả năng phục vụ những nhóm người học và ngành nghề cần thiết, cùng hiệu quả sử dụng ngân sách công.
Như vậy, thống nhất mục tiêu không đồng nghĩa với đồng nhất cách thực hiện. Cấp hệ thống có thể xác lập định hướng, chuẩn chất lượng và cơ chế giám sát mà không nhất thiết phê duyệt trước từng quyết định của cơ sở. Từng cơ sở có quyền lựa chọn con đường phù hợp với sứ mệnh đã cam kết. Cộng đồng học thuật được tham gia những quyết định thuộc năng lực chuyên môn của mình. Trách nhiệm giải trình khi ấy là yêu cầu mỗi trường chứng minh mình đã tạo ra giá trị gì, cho ai, bằng nguồn lực nào và với kết quả ra sao.
Chính cách quản trị theo tầng và theo chức năng này quyết định tự chủ đại học có trở thành thực quyền. Nếu trong khuôn khổ pháp luật và mục tiêu chung của hệ thống, mỗi trường đều có không gian theo đuổi những mục tiêu riêng phù hợp với sứ mệnh của mình thì lãnh đạo trường có thể dám chọn hướng đi khác, dám đổi mới cách làm và dám chịu trách nhiệm về kết quả. Một hệ thống đại học mạnh không được tạo nên từ sự đồng phục, mà từ những cơ sở có đủ thực quyền để tạo ra khác biệt một cách sáng tạo và có trách nhiệm.
Tự chủ đại học và đại học đẳng cấp quốc tế
Mục tiêu hình thành đại học nghiên cứu đẳng cấp quốc tế cho thấy rõ vì sao tự chủ phải được hiểu đồng thời ở cấp thể chế và cấp học thuật. Một trường muốn phát triển năng lực nghiên cứu mạnh cần được lựa chọn ưu tiên khoa học, tuyển dụng và đãi ngộ nhân tài, xây dựng nhóm nghiên cứu, hợp tác quốc tế và phân bổ nguồn lực theo chiến lược dài hạn. Nhưng những điều kiện ấy chỉ phát huy tác dụng khi nhà khoa học có tự do học thuật và có tiếng nói thực chất trong các quyết định chuyên môn.
Nếu tự chủ chủ yếu mở rộng ở phương diện tổ chức và tài chính, trong khi quyền quyết định học thuật, cơ chế nhân sự và nguồn lực nghiên cứu chưa tương ứng, nhà trường khó thu hút và giữ chân những người làm khoa học giỏi hoặc theo đuổi những câu hỏi cần nhiều năm mới có kết quả. Áp lực tự cân đối tài chính còn có thể khiến các chương trình dễ tuyển sinh, tạo nguồn thu trước mắt được ưu tiên hơn nghiên cứu cơ bản và các lĩnh vực có giá trị công lâu dài.
Vì vậy, xây dựng đại học nghiên cứu đòi hỏi một gói chính sách đồng bộ: quyền tự chủ học thuật; tự chủ nhân sự; nguồn lực nghiên cứu dài hạn; cơ chế quản trị có sự tham gia thực chất của cộng đồng học thuật; và hệ thống đánh giá dựa trên chất lượng, ảnh hưởng và sứ mệnh.
Tựu trung, tự chủ đại học chỉ phát huy đầy đủ ý nghĩa khi tự chủ thể chế đi đôi với tự chủ nội bộ. Nếu thiếu những cơ chế ấy, quyền tự chủ có thể tập trung vào một nhóm lãnh đạo, làm suy giảm vai trò của cộng đồng học thuật và tạo nguy cơ độc đoán trong quản trị. Chỉ khi hai bình diện của tự chủ hỗ trợ lẫn nhau, nhà trường mới có điều kiện thực hiện tốt sứ mệnh đã lựa chọn.