![]() |
Đông Nam Á được coi là mảnh đất màu mỡ cho các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực hướng đến người tiêu dùng như vận tải (Grab và Gojek), thương mại điện tử (Tokopedia và Sea) và du lịch (Traveloka). |
Các công ty khởi nghiệp Đông Nam Á đang trải qua một thời kỳ đầy khó khăn - nguồn vốn đầu tư đang chuyển từ các startup tập trung vào người tiêu dùng sang những startup công nghệ chuyên sâu (deep tech). Theo các nhà đầu tư, việc thay đổi tư duy là một trong những yếu tố quan trọng giúp các startup Đông Nam Á thoát khỏi tình trạng này.
"Trong hai năm qua, hệ sinh thái khởi nghiệp Đông Nam Á cũng như trên thế giới đã gặp khá nhiều khó khăn", Edgar Hardless, Giám đốc điều hành quỹ đầu tư mạo hiểm Singtel Innov8, thuộc tập đoàn công nghệ truyền thông Singtel (Singapore), cho biết. "Trong giai đoạn này, các nhà đầu tư vẫn đang thận trọng. Các công ty đã phải thắt lưng buộc bụng và đẩy nhanh kế hoạch để có thể hòa vốn nhanh hơn. Hầu hết mọi người đều hy vọng mọi thứ sẽ cải thiện trong nửa cuối năm nay, nhưng theo tôi vẫn chưa có gì chắc chắn".
Điều này khác xa so với nửa cuối thập niên 2010, hệ sinh thái khởi nghiệp Đông Nam Á sôi động với hàng loạt startup phát triển ứng dụng trong các lĩnh vực hướng đến người tiêu dùng như vận tải (Grab và Gojek), thương mại điện tử (Tokopedia và Sea) và du lịch (Traveloka) - từng được định giá hàng tỷ USD trước khi niêm yết.
Đông Nam Á được coi là mảnh đất màu mỡ cho các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vựcnày nhờ có lượng người tiêu dùng lớn và tỷ lệ sử dụng thiết bị di động cao. Về lý thuyết, đây sẽ là nền tảng tạo ra thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ trong các lĩnh vực hậu cần và công nghệ tài chính, và sau đó là các công ty B2B nói chung. Nhưng mọi thứ chưa diễn ra như mong đợi.
Theo Vishal Harnal, đối tác quản lý, giám sát hoạt động của công ty đầu tư mạo hiểm 500 Global tại Đông Nam Á, trên toàn cầu, các công ty khởi nghiệp thành công nhất trong 15 năm qua đều hoạt động trong lĩnh vực phần mềm, đặc biệt là phần mềm doanh nghiệp. Tuy nhiên, Đông Nam Á còn thiếu các doanh nghiệp này.
"Chúng tôi nhận thấy có rất ít phần mềm B2B [ở Đông Nam Á], gần như không có. Điều này rất khác với danh mục đầu tư tại Hoa Kỳ của chúng tôi - tất cả những công ty mà chúng tôi đầu tư thành công nhất đều nằm trong danh mục này", ông nói.
Theo Harnal, một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng này là sự thiếu hụt các tập đoàn lớn trong khu vực để đảm nhận các hợp đồng đăng ký lớn, vốn là yếu tố giúp các công ty phần mềm doanh nghiệp thành công, và các công ty quốc tế có rất nhiều sản phẩm để lựa chọn. Vấn đề đã trở nên trầm trọng hơn trong hai năm qua, khi ngày càng nhiều nguồn tài trợ được rót vào các công ty khởi nghiệp chuyên về công nghệ sâu, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI).
Một vấn đề khác là việc xây dựng một hệ sinh thái công nghệ sâu đòi hỏi một hệ sinh thái bao gồm các học giả, các tập đoàn công nghệ lớn và các nhà đầu tư giàu tiềm lực để thu hút các doanh nhân trẻ đầy triển vọng, như ở những nơi như Thung lũng Silicon. Một số quốc gia Đông Nam Á như Singapore đã tìm cách hỗ trợ thông qua hạn ngạch thị thực và tài trợ của chính phủ, nhưng vẫn chưa đủ để phát triển hệ sinh thái công nghệ sâu.
Trước tình hình này, một số nhà đầu tư, chẳng hạn như quỹ đầu tư mạo hiểm SCB 10X thuộc Ngân hàng Thương mại Siam của Thái Lan, đã chuyển hướng sang các khu vực khác như Mỹ, tự giới thiệu mình là đối tác địa phương lý tưởng cho các công ty khởi nghiệp công nghệ sâu nước ngoài muốn thâm nhập vào thị trường Đông Nam Á.
"Đây là một quyết định khôn ngoan bởi vì chúng ta đều biết rằng hầu hết các công ty khởi nghiệp AI sáng giá đều đến từ Mỹ", Kaweewut Temphuwapat, CEO của quỹ đầu tư mạo hiểm này, cho biết. "Chúng tôi có tất cả các mạng lưới ở Đông Nam Á - 10 quốc gia với 10 ngôn ngữ - vì vậy chúng tôi có thể giới thiệu họ một cách hiệu quả trên khắp các khu vực đó".
Mở rộng vốn đầu tư mạo hiểm của doanh nghiệp sang các lĩnh vực mới
Vốn đầu tư mạo hiểm của doanh nghiệp (corporate venture capital - CVC: vốn đầu tư mạo hiểm của doanh nghiệp trực tiếp vào các công ty khởi nghiệp bên ngoài) có vai trò quan trọng trong khu vực. Nhưng một vấn đề đáng chú ý là sự thiếu đa dạng về nhà đầu tư chiến lược, hầu hết vẫn tập trung vào lĩnh vực viễn thông hoặc ngân hàng.
Đây có thể là một lợi thế cho các ứng dụng tiêu dùng, vốn được hưởng lợi từ việc tích hợp với đối tác nhà mạng di động, hoặc các sản phẩm công nghệ tài chính có thể được hưởng lợi từ việc hợp tác với một ngân hàng uy tín.
Các khoản vốn đầu tư mạo hiểm của doanh nghiệp vào các lĩnh vực như phần mềm ở Đông Nam Á còn khá thưa thớt. Trái ngược với thế giới, các nhà đầu tư CVC lớn nhất đến từ các gã khổng lồ về công nghệ phần mềm như Google, Microsoft, Salesforce và Nvidia, trong khi đó, không có nhà đầu tư nào tương đương ở Đông Nam Á.
"Các doanh nghiệp có xu hướng đầu tư vào các lĩnh vực phù hợp hơn với chiến lược của họ", Tai Panich, Giám đốc điều hành của công ty đầu tư mạo hiểm về AI và công nghệ sâu Aiconic Ventures, người từng điều hành SCB 10X, cho biết. "Và có lẽ chúng ta cần nhiều vốn đầu tư mạo hiểm của doanh nghiệp hơn để đầu tư vào mảng công nghệ chuyên sâu".
Harnal cho rằng CVC là một phần quan trọng của nguồn vốn đầu tư trên toàn thế giới, song lại chưa được coi trọng đúng mức ở khu vực Đông Nam Á hoặc chưa được chuyên nghiệp hóa ở mức độ doanh nghiệp, đặc biệt là khi so sánh với Nhật Bản hoặc Hàn Quốc. Hầu hết công ty lớn vẫn giữ thái độ "chúng tôi có thể tự làm" hoặc "nó không quan trọng".
Việc thiếu động lực đổi mới ngày càng trở nên trầm trọng hơn do khó thoái vốn. Đông Nam Á chưa bao giờ là một thị trường M&A (sáp nhập và mua lại, là một chiến lược thoái vốn phổ biến) lớn cho các công ty khởi nghiệp công nghệ do thiếu người mua trong khu vực. Cũng giống với thế giới, hiện nay có rất ít đợt IPO (chào bán chứng khoán lần đầu tiên ra công chúng) diễn ra ở Đông Nam Á. Trong khi đó, các nhà phát triển ứng dụng phổ biến từng đạt được mức định giá cao trước IPO, thường bị sụt giá sau khi niêm yết.
Điều này đã ảnh hưởng đến niềm tin của nhà đầu tư cũng như việc huy động vốn. Tình trạng này thể hiện rõ ở Indonesia, nơi có các đơn vị CVC từng hoạt động tích cực như BRI Ventures của Ngân hàng BRI và SMDV do Sinar Mas hậu thuẫn, trong năm qua lại khá im ắng.
"Mọi người mong đợi các đợt IPO hoặc cơ hội thoái vốn trong hệ sinh thái khởi nghiệp Đông Nam Á", Panich nói. Tuy nhiên, "việc huy động vốn vẫn còn thách thức. Nguồn vốn đầu tư năm 2024 đã giảm khoảng 50% so với năm trước đó".
Các nhà đầu tư cho rằng hệ sinh thái khởi nghiệp Đông Nam Á vẫn có tiềm năng bắt kịp thế giới nếu chuyển hướng, từ việc tập trung vào khu vực sang tư duy toàn cầu hơn.
Một hình mẫu trong khu vực là Singapore, với dân số chỉ 6 triệu người. Do lượng người tiêu dùng quá nhỏ, các công ty khởi nghiệp Singapore chưa bao giờ tập trung vào việc phát triển sản phẩm chỉ dành cho thị trường nội địa.
"Đó là lý do tại sao các doanh nghiệp Singapore tập trung vào những điểm mạnh: kỹ thuật, công nghệ, công nghệ sâu; ngay từ đầu, họ đã hướng đến giải quyết các vấn đề trong khu vực, thậm chí là toàn cầu", Harnal nói. "Vì quy mô thị trường trong nước không đủ lớn, họ buộc phải xây dựng nhiều công ty toàn cầu hơn".
Ngược lại, những quốc gia có thị trường lớn ít khi có động lực hướng đến vấn đề toàn cầu. Đơn cử như Indonesia, "thị trường nội địa của nước này quá lớn đến mức phải tập trung xây dựng các công ty tiêu dùng để giải quyết những vấn đề trong thị trường nội địa. Họ không còn hứng thú với việc xây dựng các doanh nghiệp B2B vì thị trường tiêu dùng quá lớn", theo Harnal. "Tôi tin rằng chúng ta sẽ thấy nhiều doanh nghiệp Đông Nam Á hơn nữa có thể giải quyết các vấn đề toàn cầu, và trở thành các công ty toàn cầu. Vấn đề ở đây chỉ là giới hạn về mặt tư duy và tầm nhìn".
Nguồn: Global Venturing
Bài đăng KH&PT số 1355 (số 31/2025)
Thanh Bình dịch
