Một bí ẩn y học ở Bệnh viện Di tản 93
Một ngày cuối tháng Bảy năm 1966, Trung tá John Joseph Deller Jr. tiếp nhận một viên binh sĩ Hoa Kỳ, bệnh nhân thứ 110 bị sốt cao, ớn lạnh, và nhức đầu dai dẳng. Các nhân viên y tế gấp rút thăm khám và rút máu vào một ống nhỏ đã đánh dấu mã số định danh. Các mẫu bệnh phẩm được cẩn thận bảo quản trong một tủ đông mà nhiệt độ âm 20oC được duy trì liên tục nhờ máy phát điện bên ngoài căn lều Quonset. Deller nhẹ nhàng đặt các mẫu bệnh phẩm ngay ngắn trong một rương y tế, cố gắng chêm kín các khoảng trống bằng băng khô, bao kín, rồi đặt rương vào trong thùng sau của chiếc xe jeep quân đội. Từ Bệnh viện Di tản 93 ở Long Bình (thuộc Đồng Nai), chiếc xe chở bệnh phẩm chạy đến phi cảng Tân Sơn Nhất, và Deller hy vọng các ống bệnh phẩm sẽ tới được tay Thiếu tá Philip King Russell tại Phòng thí nghiệm SEATO, Bangkok một cách an toàn.
Bệnh viện Di tản 93. Ảnh: Wikimedia Commons
Hoa Kỳ đang biến Long Bình thành một tổ hợp quân sự lớn nhất miền Nam nhằm di chuyển hàng vạn lính viễn chinh và nhân viên quân sự ra khỏi đô thành Sài Gòn. Bệnh viện Di tản 93 nằm giáp cực Bắc của tổ hợp Long Bình. Ban đầu, bệnh viện chỉ là những mái lều đơn sơ. Dần dần, các mái lều bán nguyệt kiên cố đúc sẵn được mang đến và lắp ráp. Trên mái mỗi lều có sơn một lá cờ hồng thập tự nền trắng. Vào những giờ cao điểm, các y tá từ lều trung tâm có thể chạy liên tục từ góc lều này sang góc lều kia để chăm sóc các thương bệnh binh.
Ngoài những đợt tấn công, những cơn mưa dầm dề, cái nóng bức oi ả, và một thứ cũng đáng sợ không kém đang len lỏi vào các doanh trại và từng hơi thở của những người lính Hoa Kỳ xa xứ: bệnh truyền nhiễm miền nhiệt đới. Từ khi bệnh viện bắt đầu hoạt động ngày 1 tháng 12 năm 1965, các nhân viên y tế của Bệnh viện Di tản 93 liên tục tiếp nhận các bệnh nhân sốt không rõ nguyên nhân. Ba triệu chứng điển hình mà hầu hết các binh sĩ đều có là sốt, ớn lạnh, và đau đầu. Chính điều đó làm các bác sĩ Hoa Kỳ bối rối. Bệnh nhiệt đới là một điều hoàn toàn xa lạ với họ.
Deller là một bác sĩ trẻ vừa hoàn thành chương trình đào tạo cao học tại Hoa Kỳ và sang phục vụ tại chiến trường Việt Nam. Ông nghĩ rằng nếu có thể tìm ra căn nguyên của sốt rồi gom các bệnh nhân với các triệu chứng theo cùng căn nguyên, những nhà lâm sàng học quân sự sẽ có một cẩm nang mẫu mực và quý giá để chẩn đoán sớm cho binh sĩ khi bị sốt. Vào thời Chiến tranh Thế giới thứ hai, quân đội Hoa Kỳ cũng đã từng chống chọi với sốt không rõ nguyên nhân khi tham gia chiến dịch Thái Bình Dương. Deller tin rằng mình đang có cơ hội làm một nghiên cứu bài bản và chặt chẽ trong Chiến tranh Việt Nam.
Ở Long Bình, Deller sẽ thu thập dữ liệu lâm sàng của bệnh nhân, và thu mẫu huyết thanh. Bên Bangkok, Russell sẽ chạy các xét nghiệm virus học và vi trùng học. Hơn một nửa số ca bệnh được chẩn đoán là sốt xuất huyết Dengue, sốt đau xương Chikungunya, sốt Mò, và sốt Rét. Đáng chú ý, có một bệnh nhân bị nhiễm virus Viêm não Nhật Bản.
Các virus Dengue (gây sốt xuất huyết), Chikungunya (gây sốt đau khớp dữ dội) trong các ghi chép trước đây được mô tả là 'sốt gãy xương' và Viêm não Nhật Bản được phân thành một nhóm chung gọi là các virus lây truyền qua muỗi và động vật chân đốt nói chung (arthropod-borne virus hay arbovirus). Những cuộc chiến tranh xâm lược, di cư, và giao thương trong lịch sử giữa các quốc gia và sự tăng phạm vi phân bố địa lý của muỗi đã tạo cơ hội cho sự khuếch tán của các loại arbovirus gây bệnh.
Arbovirus đã trở thành mối đe doạ của nhân loại như thế nào? Và làm thế nào nhân loại tìm ra danh tính của những kẻ thù vô hình đó? Chúng ta lần tìm từng nhánh virus một.
Cô lập virus Dengue trong Thế chiến hai
Virus Dengue gây sốt xuất huyết có thể đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Theo nhiều tài liệu khác nhau, bệnh giống sốt Dengue đã được ghi lại sớm nhất từ thế kỷ thứ 3 - 4 ở Trung Quốc. Ở phương Tây, chữ sốt "Dengue" bắt đầu được sử dụng vào thế kỷ 19. Trước đó thường được mô tả là 'sốt gãy xương' - (quebranta huesos trong tiếng Tây Ban Nha) xuất phát từ cảm giác đau đớn rụng rời xương cốt mà các bệnh nhân chịu đựng.
Bên trong khu điều trị bệnh nhân của Lục quân Mỹ ở New Guinea năm 1943. Ảnh: Thư viện Y khoa Quốc gia Mỹ
Trong Thế Chiến 2, vào mùa hè năm 1942, lúc chiến cuộc đang leo thang với thế thượng phong của khối Đồng Minh và sự đi xuống của khối Trục, những người đi biển và binh sĩ trở về từ mặt trận Thái Bình Dương và Đông Nam Á vô tình đem theo một kẻ thù vô hình vào nước Nhật. Các thành phố dọc theo duyên hải Nhật Bản, trải dài từ vĩ tuyến 33 đến 35, chứng kiến một trận dịch sốt xuất huyết với quy mô lớn, khởi phát từ các khu vực Nagasaki - Sasebo và Osaka-Kobe và các thành phố Hiroshima, Kure, và Fukuoka. Một số học giả ước tính có khoảng từ hai trăm ngàn cho tới hai triệu người Nhật bị nhiễm Dengue. Các bác sĩ lâm sàng vào lúc đó đã biết được rằng muỗi hổ Á Châu Aedes albopictus là vật chủ trung gian truyền bệnh nên các chiến dịch diệt muỗi được tiến hành trong cộng đồng. Dịch bệnh bùng phát trở lại và lặp đi lặp lại cho đến năm 1945.
Trận dịch sốt xuất huyết xảy ra đầu tiên ở Nagasaki đã thu hút sự chú ý của một chàng thanh niên trẻ tên Susumu Hotta. Năm đó Hotta vừa mới tốt nghiệp bác sĩ từ Y Khoa Đại Học Đường thuộc Đại học Đế quốc Kyoto và ở lại trường làm nghiên cứu trong khoa vi sinh học.
Câu hỏi làm trăn trở Hotta và các cộng sự vào lúc đó là làm thế nào để cô lập virus Dengue từ bệnh nhân. Từ năm 1931, Emilius Paulus Snijders và cộng sự đã tìm cách cô lập virus Dengue từ các bệnh nhân trong đợt bộc phát ở Đông Ấn Hà Lan (nay là Indonesia) bằng cách nuôi cấy trong não chuột nhưng không thành. Mặc dù vậy, Hotta quyết định thử vận may của mình với chuột bạch sơ sinh.
Tháng Chín năm 1943, một bệnh nhân tên là Mochizuki nhập viện tại Nagasaki và tình nguyện tham gia nghiên cứu. Hotta thu mẫu máu trong vòng 48 giờ sau khi bệnh nhân bắt đầu sốt. Ông tiêm máu của bệnh nhân vào não của chuột bạch sơ sinh. Năm ngày sau, Hotta tách lấy não chuột, nghiền nhỏ, và pha loãng trong dung dịch nước muối sinh lý Tyrode. Nhũ tương não này được tiêm vào não của các chuột sơ sinh khác, được gọi là thế hệ nuôi cấy thứ hai. Hầu hết các chuột ở thế hệ thứ hai đều suy nhược và run. Sang thế hệ thứ ba, liệt chi sau bắt đầu xuất hiện và tiếp tục biểu hiện như vậy ở thế hệ thứ tư. Hotta vô cùng hứng khởi, bởi điều này cho thấy rất có thể ông đã cô lập được virus Dengue, điều mà các nhà khoa học Âu Châu thất bại từ hơn mười năm trước.
Để trả lời cho câu hỏi virus được cô lập có gây ra sốt Dengue hay không, Hotta tiêm nhũ tương não của chuột thế hệ thứ năm vào tĩnh mạch các tình nguyện viên khoẻ mạnh. Các triệu chứng điển hình của Sốt Dengue xuất hiện, và sau vài tuần thì các triệu chứng này hoàn toàn biến mất. Không những vậy, huyết thanh của tình nguyện viên sau khi hồi phục được đem ủ với virus Dengue ở 37oC trong hai giờ và ở 4oC trong hai giờ tiếp theo trước khi được tiêm vào não chuột để kiểm tra khả năng gây bệnh Dengue, và không con chuột nào xuất hiện các triệu chứng suy nhược, run, hay liệt chi. Như vậy, không chỉ cô lập được virus Dengue, Hotta còn biết được rằng hệ thống miễn dịch của tình nguyện viên sau khi hồi phục đã sản xuất được kháng thể trung hòa virus.
Từ các kết quả này, Hotta nghĩ ra một ứng dụng của các chủng virus Dengue mà ông đang duy trì ở chuột sơ sinh. Hotta tiêm nhũ tương não chứa virus đã giảm độc tính vào các tình nguyện viên khoẻ mạnh. Như các kết quả trước đó, không ai có các triệu chứng sốt. Sau hai tuần, Hotta tiêm huyết thanh của bệnh nhân đang có sốt xuất huyết Dengue vào các tình nguyện viên trên. Điều kỳ diệu đã xảy ra: các tình nguyện viên được tiêm chủng với virus đã giảm độc tính không bị bệnh hoặc nếu bệnh thì triệu chứng nhẹ hơn hẳn so với nhóm đối chứng. Như vậy, virus được duy trì trong não của chuột sơ sinh vô tình đã trở thành một loại vaccine giảm độc lực giúp phòng ngừa virus Dengue.
Đời sống của người dân Nhật Bản trong chiến tranh trở nên thiếu thốn và khó khăn, và việc duy trì nghiên cứu khoa học của Hotta cũng như của những người khác trong hoàn cảnh đó càng thêm muôn phần gian truân. Vì nguồn điện cung cấp không ổn định, Hotta gần như không thể sử dụng tủ đông để lưu giữ các chủng virus mà ông cô lập. Do đó, Hotta phải liên tục duy trì virus trong não chuột. Thiếu thốn lương thực, ông trích phần ăn của mình ra để nuôi chuột. Thậm chí, khi thiếu chuột, mẹ Hotta vì thương con đam mê với nghiệp nghiên cứu mà bà đã tình nguyện duy trì virus trong người.
Người dân đi lại trên đường sau vụ ném bom tại Nagasaki. Ảnh: Cục Lưu trữ và Quản lý Hồ sơ Quốc gia Hoa Kỳ
Với những kết quả thí nghiệm thành công như vậy, Hotta quay lại Nagasaki vào mùa hè tiếp theo. Như thường lệ, Hotta sẽ đón xe lửa từ Kyoto đến Nagasaki vào đầu tháng Tám để thu mẫu từ các bệnh nhân vùng dịch. Chỉ vài ngày trước đó, những vụ ném bom oanh tạc của khối Đồng Minh làm đường ray bị hư hỏng nặng không vận hành được nên Hotta quyết định nán lại Kyoto vài ngày. Ngay sau đó, Hoa Kỳ thả bom nguyên tử san phẳng một nửa thành phố Nagasaki. Ba giáo sư cộng sự của Hotta ra đi vĩnh viễn ngay khi bom nổ. Lo sợ rằng viện nghiên cứu của mình ở Kyoto có thể sẽ bị phá huỷ, ông giữ các mẫu virus trong bình đẳng nhiệt chứa đá và luôn đeo theo người.
Cách Nagasaki bốn ngàn dặm về phía Đông, quân đội Mỹ không hề hay biết gì về các khám phá của Susumu Hotta, và họ cũng đang nghiên cứu về virus Dengue ở các binh sĩ đồn trú tại quần đảo Hawaii từ năm 1944. Tại Phòng thí nghiệm Khu vực Trung tâm Thái Bình Dương, Trung tá Clarence S. Moran thu mẫu máu của các binh sĩ sau 24 giờ có dấu hiệu sốt và gởi về Hoa Kỳ. Các tướng lĩnh trong Hội đồng Dịch tễ Lục quân và Ban Ủy nhiệm về các bệnh virus hướng thần kinh của Lục quân Hoa Kỳ thành lập Đơn vị Nghiên cứu Dengue tại phòng thí nghiệm của Giáo sư, Trung tá Albert Bruce Sabin tại Quỹ nghiên cứu Bệnh viện Nhi Đồng, Đại học Cincinnati, Ohio.
Sabin thử nghiệm rất nhiều cách khác nhau để cô lập virus Dengue từ các binh sĩ Hawaii. Ban đầu, ông tiêm huyết thanh mang mầm bệnh vào phôi chuột. Sau này, ông lại tiêm huyết thanh vào phôi gà. Tuy nhiên, chỉ khi ông sử dụng chuột bạch nhũ nhi Thụy Điển 10 – 12 ngày tuổi thì mới bắt đầu có những kết quả khả quan. Từ thế hệ tiêm chủng thứ sáu, Sabin quan sát được các triệu chứng của sốt Dengue trên chuột trong khoảng 2 tuần sau tiêm, và đến thế hệ thứ chín thì triệu chứng liệt chi bắt đầu xuất hiện. Sabin sử dụng virus nuôi cấy của chuột ở thế hệ thứ 16 để gây nhiễm trên người, và từ đó ông thiết lập được mối quan hệ nhân quả giữa virus và bệnh. Hơn nữa, Sabin còn sử dụng virus nuôi cấy trên chuột như một loại vaccine trong thí nghiệm gây nhiễm Dengue bằng muỗi Aedes aegypti. Lúc này là tháng Ba năm 1944.
Các nghiên cứu trong giai đoạn này của Sabin cho thấy virus Dengue có nhiều chủng khác nhau. Ông gọi virus chủng Hawaii là Dengue chủng huyết thanh (serotype) 1 hay DENV-1 và chủng phân lập từ mẫu bệnh phẩm New Guinea gửi về là chủng huyết thanh 2 hay DENV-2. Không dừng lại ở đó, ông còn cô lập thêm một chủng nữa từ các binh sĩ đồn trú tại Mặt Trận Ấn Độ-Burma. Các kết quả này được Sabin công bố trên tạp chí Science năm 1945 dưới dạng "bài báo đặc biệt". Tưởng chừng như công trình của mình là cột mốc đầu tiên khám phá ra virus Dengue, vài năm sau, Sabin mới có dịp tiếp xúc với các nghiên cứu của Susumu Hotta thu được từ những năm 1942 – 1943. Sabin đã khuyến khích Hotta hệ thống hóa lại các kết quả thí nghiệm và công bố nghiên cứu của ông trên Tập San Bệnh Truyền Nhiễm (Journal of Infectious Diseases) năm 1952.
Chỉ vài năm sau, những trận dịch bùng phát lần đầu tiên ở Đông Nam Á đã trở thành mảnh ghép hoàn chỉnh cho cuộc hành trình định danh virus Dengue suốt nhiều thập niên. Vào mùa mưa 1956, đô thành Manila của Philippines phát hiện hàng trăm ca nhập viện vì sốt. Các bác sĩ lúc đó gọi những cơn sốt Philippines là sốt "H," viết tắt của chữ hemorrhagic, vì triệu chứng xuất huyết giống Dengue nhưng nguy hiểm hơn rất nhiều. Hơn 10% tử vong trong tổng số 750 ca ghi nhận, một con số báo động so với hành vi của sốt Dengue ở những trận dịch trước đó. Đặc biệt, hầu hết các ca bệnh đều là trẻ em dưới sáu tuổi. Nhà nghiên cứu y học cộng đồng, Bác Sĩ William McDowell Hammon lúc đó đang lãnh đạo một đơn vị nghiên cứu thực địa tại Manila để khảo cứu arbovirus trong khu vực.
Dựa trên những công trình trước đó của Hotta và Sabin, Hammon thu mẫu bệnh phẩm từ các bệnh nhân Manila và mẫu muỗi Aedes aegypti và Culex tritaeniorhynchus từ khu vực xung quanh để nuôi cấy virus trong não chuột. Sau mười đến hai mươi thế hệ chuột, ông cô lập thành công virus Dengue. Bên cạnh những chủng huyết thanh đã biết, Hammon nhận ra có hai chủng Manila mang những đặc trưng khác biệt mà ông gọi là chủng huyết thanh 3 (DENV-3) và 4 (DENV-4). Từ đó đến nay, ngành virus học chưa công nhận thêm chủng huyết thanh mới nào của virus Dengue, mặc dù một chủng thứ năm chưa được kiểm chứng được tìm thấy ở một bệnh nhân duy nhất tại Malaysia năm 2013. Các đợt bộc phát Dengue lần đầu tiên được ghi nhận tại Đồng Bằng sông Hồng năm 1958 và khu vực Sài Gòn năm 1960 đều có sự xuất hiện của cả bốn chủng huyết thanh.
Đợt bùng phát viêm não Nhật Bản ở Long Bình
Quay trở lại Long Bình, mặc dầu còn 29 ca chưa tìm ra được nguyên nhân gây sốt, việc giải mã được ba phần tư số ca sốt không rõ nguyên nhân là một thành công đối với Trung tá Deller. Từ các xét nghiệm cận lâm sàng của Russell và các quan sát lâm sàng trên các binh sĩ Sài Gòn - Long Bình, Deller tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa sốt Dengue và sốt Chikungunya, trong đó đau khớp và viêm khớp trầm trọng là đặc trưng quan trọng nhất của virus Chikungunya. Deller công bố các kết quả của ông trên Niên San về Nội Khoa Y Học (Annals of Internal Medicine) vào tháng Sáu năm 1967.
Những chiếc lều quân y dã chiến Quonset tại Bệnh viện Di tản 93. Ảnh: Wikimedia Commons
Ngay sau đó, mô hình nghiên cứu của Deller được các đơn vị nghiên cứu quân sự Hoa Kỳ áp dụng và triển khai trên khắp miền Nam trong các năm 1966 – 1968. Các nghiên cứu này tập trung vào sốt không rõ nguyên nhân ở các nhân viên Lục quân tại Bệnh viện Dã chiến 8 Nha Trang và Đồng Tâm, Đồng bằng sông Cửu Long; nhân viên Hải quân tại Quân đoàn I; và binh sĩ Không quân tại Không lực Hoa Kỳ 12. Năm 1969, Deller được mời làm diễn giả chia sẻ công trình của ông với các bác sĩ tại Bộ môn Y học, Trung tâm Y khoa Đại học California, San Francisco, nơi ông từng hoàn thành chương trình đào tạo chuyên sâu về nội tiết trước khi tham gia Chiến tranh Việt Nam.
Bài báo mở đường của Deller đóng vai trò quan trắc xuất phát từ một ca nhiễm virus Viêm não Nhật Bản năm 1966. Bệnh viện Di tản 93 tiếp nhận 57 ca viêm não sau đó ba năm. Trong giai đoạn chiến tranh leo thang thời Tổng thống Lyndon Baines Johnson, hơn nửa triệu binh sĩ Hoa Kỳ có mặt tại chiến trường miền Nam. Với vai trò hậu cần quan trọng, tổ hợp Long Bình phình to về nhân lực. Đỉnh điểm là mùa hè 1969, số nhân viên Hoa Kỳ làm việc tại Long Bình lên đến 60,000 – 75,000. Đi kèm với sự gia tăng nhân sự và cơ sở hạ tầng là sự gia tăng của các vật chủ trung gian truyền bệnh.
Năm 1963, bác sĩ Nguyễn Thị Kim Thoa và các cộng sự tại Viện Pasteur Sài Gòn lần đầu tiên cô lập được một chủng virus Viêm não Nhật Bản từ muỗi Aedes aegypti ở miền Nam. Đến năm 1972 – 1973, nhóm nghiên cứu của bà đã cô lập được đến mười chủng virus từ ba loại muỗi khác nhau, bao gồm Culex tritaeniorhynchus, Culex quinquefasciatus, và Culex gelidus ở nhiều khu vực nội thành và ngoại thành Sài Gòn. Những yếu tố này đã dẫn đến một trận dịch Viêm não Nhật Bản quy mô lớn trong các doanh trại quân đội Hoa Kỳ. Theo ước tính, có tới 11,970 binh sĩ có thể đã bị nhiễm virus.
Trong số các binh sĩ nhập viện năm đó có J.C. thuộc quân đồn trú tại Long Bình. Khi các đồng đội đưa J.C. vào Trung tâm Nội thần kinh, anh đã ở trạng thái hôn mê và mất khả năng ngôn ngữ. Nhìn tay phải múa giật trong khi thân trái bị liệt nửa người, Bác Sĩ W. Bruce Ketel đoán ngay rằng rất có thể là Viêm não Nhật Bản, một cơn ác mộng lâm sàng. J.C. không trả lời được bất cứ tiếng gọi nào của Ketel. Anh nhanh chóng rơi vào hôn mê sâu, chân duỗi thẳng, còn tay thì co quắp vào lồng ngực. Nhìn hình ảnh người binh sĩ ở tư thế đặc trưng của mất vỏ não, Ketel biết J.C. đang nằm ở biên giới của tử thần.
Sau khi tốt nghiệp bác sĩ năm 1966 và hoàn thành chương trình y khoa cao học năm 1968 tại Đại học Northwestern, Chicago, Ketel tham gia Chiến tranh Việt Nam với vai trò chuyên gia nội thần kinh trong Không lực Hoa Kỳ. Trong trận dịch Viêm Não 1969, Bệnh viện Di tản 93 thiếu nhân lực, và Ketel được Không lực cho Lục quân "vay mượn" để phục vụ trong đội K.O. 935. Vào lúc đó, các đội chuyên gia y học quân sự được gọi là các đội "K.": K.B. là đội chấn thương chỉnh hình, K.F. ngoại lồng ngực, K.E. ngoại thần kinh, và K.O. nội thần kinh. Do ký hiệu này mà các nhân viên y tế hay gọi đùa với nhau rằng đội K.O. là đội hạ knock-out các bệnh lý thần kinh. Để hỗ trợ việc chẩn đoán bệnh, Ketel và một đồng nghiệp khác là bác sĩ Arthur K. Parpart thành lập Phòng thí nghiệm Điện não đồ của Hoa Kỳ đầu tiên tại Việt Nam. Parpart luôn có tiếng nói phản chiến và chống lại sự can thiệp của Hoa Kỳ vào miền Nam Việt Nam.
Một bệnh nhân được đưa đến Bệnh viện Di tản 93 bằng cáng. Ảnh: Wikimedia Commons
Với tình trạng nguy kịch của J.C., Ketel không thể làm gì khác ngoài chăm sóc hỗ trợ. Bệnh Viêm não Nhật Bản vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Đối với những bệnh nhân có thể vượt qua được giai đoạn cấp tính của bệnh, Ketel sẽ chỉ định di tản họ sang Nhật Bản điều trị rồi sau đó trở về Hoa Kỳ. Nhưng J.C. thì không, sau chín ngày hôn mê sâu và không đáp ứng với điều trị, J.C. qua đời trên giường bệnh.
Chiến tranh đã khép lại đúng một nửa thế kỷ, và câu chuyện của J.C. và những người khác chỉ còn được phục dựng từ những thông tin rời rạc trong các công trình nghiên cứu khoa học. Trong thất bại của người Mỹ tại chiến trường miền Nam, các tật bệnh do arbovirus gây ra có thể đã đóng một vai trò nào đó. Những người lính lần đầu đặt chân đến Việt Nam, nếu còn sống trở về, có thể sẽ sợ hãi không chỉ là súng đạn chiến trường mà còn là những cơn bạo bệnh miền nhiệt đới.
Sau năm 1975, Trung tá Deller giải ngũ với chức vụ Đại tá, làm bác sĩ dân sự, viết sách, và thuyết giảng về lối sống trường thọ trên các du thuyền. Russell tiếp tục nghiên cứu arbovirus và trở thành một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm. Năm 1983, Russell trở thành chủ tịch của Hiệp hội Y học và Vệ sinh Nhiệt đới Hoa Kỳ. Sau khi Sabin qua đời năm 1993, Russell làm chủ tịch sáng lập của Viện Vaccine Sabin. Ông qua đời ngày 21 tháng một năm 2021 trong giai đoạn đại dịch Covid-19 toàn cầu. Còn Deller, một cách rất tình cờ, qua đời ngày 30 tháng Tư năm 2025, tròn 50 năm Việt Nam thống nhất đất nước.
Kể từ khi nhân loại bắt đầu ghi chép về arbovirus cho đến nay, các dịch bệnh vẫn tiếp tục lưu hành ở nhiều quốc gia trên thế giới với chu kỳ ngày một leo thang. Theo danh mục Arbovirus của Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ, khoảng 500 loại arbovirus đã được báo cáo, và khoảng 150 trong tổng số đó được ghi nhận là có gây bệnh ở người. Chín loại arbovirus nằm trong Tờ thông tin của Tổ chức Y tế Thế giới được xem là những mối đe dọa tiềm tàng có thể bùng phát thành Căn bệnh X - một danh xưng tạm thời dành cho tác nhân gây bệnh sẽ trở thành đại dịch toàn cầu trong tương lai: Dengue, Chikungunya, sốt Vàng, và Zika (lây truyền qua muỗi Aedes); Viêm não Nhật Bản, West Nile, và sốt Rift Valley (lây truyền qua muỗi Culex); Sốt xuất huyết Crimean-Congo (lây truyền qua bọ ve); và Oropouche (lây truyền qua muỗi dĩn). Vào tháng một năm nay, các nhà khoa học thuộc Nhóm cố vấn kỹ thuật khuyến Nghị Arbovirus Toàn cầu của Tổ chức Y tế Thế giới đã phát lời kêu gọi hành động ngăn chặn sự lan truyền của các virus này trên tập san Lancet Bệnh Truyền Nhiễm (The Lancet Infectious Diseases).
1. Nobuchi, H. The symptoms of a dengue-like illness recorded in a Chinese medical encyclopedia. Kanpo Rinsho 26, 422-425 (1979).
2. Gubler, D.J. Dengue and dengue hemorrhagic fever. Clinical Microbiology Reviews 11, 480-496 (1998).
3. Guo, X., et al. Dengue epidemic in China before 1978. Infectious Diseases of Poverty 13, 69 (2024).
4. Rigau-Pérez, J.G. The early use of break-bone fever (Quebranta huesos, 1771) and dengue (1801) in Spanish. American Journal of Tropical Medicine and Hygiene 59, 272-274 (1998).
5. Rush, B. An account of the Bilious Remitting Fever, as it pppeared in Philadelphia, in the summer and autumn of the year 1780 (Reprinted from Medical Inquiries and Observations, Vol 2, 1809). Am J Med 11, 546-550 (1951).
6. Kuno, G. A re-examination of the history of etiologic confusion between Dengue and Chikungunya. PLOS Neglected Tropical Diseases 9, e0004101 (2015).
7. The Nomenclature of Diseases, Drawn up by a Joint Committee appointed by the Royal College of Physicians of London. British and Foreign Medico-Chirurgical Review 44, 352-370 (1869).
8. Hotta, S. Experimental studies on dengue. I. Isolation, identification and modification of the virus. The Journal of Infectious Diseases 90, 1-9 (1952).
9. Konishi, E. & Kuno, G. In memoriam: Susumu Hotta (1918-2011). Emerging Infectious Diseases 19, 843-844 (2013).
10. Sabin, A.B. & Schlesinger, R.W. Production of immunity to Dengue with virus modified by propagation in mice. Science 101, 640-642 (1945).
11. Sabin, A.B. Research on dengue during World War II. American Journal of Tropical Medicine and Hygiene 1, 30-50 (1952).
12. Hammon, W.M., Rudnick, A. & Sather, G.E. Viruses associated with epidemic hemorrhagic fevers of the Philippines and Thailand. Science 131, 1102-1103 (1960).
13. Sanguansermsri, T., Poneprasert, B. & Phornphutkul, B. Acute Encephalopathy Associated with Dengue Infection. in SEAMEO TROPMED Network 10-11 (Bangkok, 1976).
14. Solomon, T., et al. Neurological manifestations of dengue infection. Lancet 355, 1053-1059 (2000).
15. Morgan, J. Tom Solomon: world records, academic leadership, and emerging infections. Lancet Neurology 24, 289 (2025).
16. Kuno, G. Contrasting the practices of virus isolation and characterization between the early period in history and modern times: The case of Japanese Encephalitis Virus. Viruses 14(2022).
17. Miyake, M. The pathology of Japanese encephalitis: A Review. Bulletin of the World Health Organization 30, 153-160 (1964).
18. Deller, J.J., Jr. & Russell, P.K. An analysis of fevers of unknown origin in American soldiers in Vietnam. Annals of Internal Medicine 66, 1129-1143 (1967).
19. Reiley, C.G. & Russell, P.K. Observations on fevers of unknown origin in the Republic of Vietnam. Military Medicine 134, 36-42 (1969).
20. Colwell, E.J., et al. Investigations on acute febrile illness in American servicemen in the Mekong Delta of Vietnam. Military Medicine 134, 1409-1414 (1969).
21. Berman, S.J., Irving, G. & Kundin, W.D. Infectious disease survey of U.S. Naval Medical Research Unit No.2, Taipei, Taiwan. (1968).
22. Deaton, J.G. Febrile illnesses in the tropics (Vietnam). Military Medicine 134, 1403-1408 (1969).
23. Deller, J.J., Jr. Diseases from Vietnam. California Medicine 111, 461-466 (1969).
24. Ketel, W.B. & Ognibene, A.J. Japanese B encephalitis in Vietnam. The American Journal of the Medical Sciences 261, 271-279 (1971).
25. Brown, J. Long Binh looked like a fighting chance. Army Nov(2022).
26. Gunderson, C.H. & Daroff, R.B. Vietnam. JAMA Neurology 59, 141-146 (2002).
27. Nguyen, T.T.-K., Beytout, D. & Do Van, Q. [Isolation of a virus closely related to the Japanese encephalitis virus from a lot of mosquitoes in Saigon]. Médicine Tropicale 26, 150-154 (1966).
28. Nguyen, T.T.-K., Ngo, V.T., Tran, M.T. & N., T.-N.-X. Japanese encephalitis vectors: isolation of virus from culicine mosquitoes in the Saigon area. The Southeast Asian Journal of Tropical Medicine and Public Health 5, 408-412 (1974).
29. Staff, E. Dr. Arthur Parpart Jr. Obituary. The Enterprise July 10(2014).
30. John J. Deller, M.D. Obituary. The Desert Sun December 24(2025).
31. Philip Russell Obituary. Horan & McConaty Dec 24(2021).
32. He, M., He, C.-Q. & Ding, N.-Z. Human viruses: An ever-increasing list. Virology 604, 110445 (2025).
33. Group, W.G.A.I.T.A. Strengthening global preparedness and response to arboviral disease threats: a call to action. The Lancet Infectious Diseases 26, 15-17 (2026).