Nguy cơ thiếu điện từ năm 2027
Trong Báo cáo số 760 gửi Thủ tướng Chính phủ giữa tháng 9, Bộ Công Thương cảnh báo hệ thống điện quốc gia có thể thiếu khoảng 4.200 MW công suất điện (khả năng phát điện tại một thời điểm) vào năm 2027 và gần 14.000 MW vào năm 2030.
Để so sánh, hiện tổng công suất nguồn điện lắp đặt của cả nước khoảng 87.600 MW. Tuy nhiên, con số này không có nghĩa từng ấy công suất luôn sẵn sàng để sử dụng. 27% trong đó là công suất năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời). Điện mặt trời cần ánh nắng, điện gió cần có gió; trong khi người dân và doanh nghiệp vẫn cần điện vào ban đêm, những ngày ít gió hay khi nhu cầu tăng vọt.
Năm nay, có thời điểm cả nước sử dụng điện nhiều đến mức công suất phụ tải (nhu cầu dùng điện) vượt 57.500 MW, lập kỷ lục mới và cao hơn 6,4% so với năm trước. Mặc dù cơ quan quản lý cho rằng năm 2026 vẫn có thể đáp ứng đủ nhu cầu điện, nhưng khi "đỉnh" nhu cầu điện mỗi năm lại tăng thêm, hệ thống sẽ chịu sức ép phải bổ sung nguồn điện và mở rộng lưới truyền tải kịp thời.
Bộ Công Thương cũng cho biết sẽ phải rà soát toàn bộ nhu cầu của các trung tâm dữ liệu, trung tâm AI, trạm sạc xe điện, cùng nhu cầu làm mát và sưởi ấm đang ngày càng gia tăng.
Công nhân ngành điện sửa chữa lưới điện trung áp. Ảnh: EVN
Báo cáo cho biết sau hơn ba năm thực hiện Quy hoạch điện VIII, tiến độ đầu tư các dự án nguồn điện còn chậm. Chỉ 5% tổng công suất các dự án nguồn điện trong quy hoạch đã được đưa vào vận hành; 9% đã khởi công nhưng chưa hoàn thành; 28% đã lựa chọn nhà đầu tư nhưng chưa thể khởi công. Khoảng 45% tổng công suất dự án chưa có chủ trương đầu tư.
Do đó, bên cạnh các giải pháp cấp bách về tiết kiệm điện, ổn định an toàn lưới điện, về lâu dài để đảm bảo nguồn điện, Bộ Công Thương đề xuất bổ sung thêm các dự án điện than và điện tái tạo. Cụ thể, dự kiến trong 2029 - 2030, ưu tiên bổ sung nguồn điện gió, điện mặt trời tại một số địa phương có tiềm năng tốt, để có thêm 8.500 MW điện mặt trời và 7.000 MW điện gió trên bờ, gần bờ. Đề xuất xem xét bổ sung 5.300 MW nhiệt điện than mới vào năm 2030, nhằm bù đắp các dự án nguồn điện nền (LNG, than) đang chậm tiến độ. Các nhà máy này dự kiến sẽ có lộ trình lắp hệ thống thu giữ carbon (CCS) để giảm phát thải, đồng thời đặt tại các khu vực gần trung tâm phụ tải lớn như Quảng Ninh, Ninh Bình, Quảng Trị và Cần Thơ.
Bộ Công Thương còn kiến nghị xin thêm cơ chế "miễn trừ tạm thời" để các nhà máy điện than có thể giảm tuân thủ quy chuẩn về nhiệt độ nước làm mát trong các tình huống vận hành khẩn cấp của hệ thống điện, nhằm huy động cao các nhà máy nhiệt điện than khi chưa đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, trong cao điểm sử dụng điện, đặc biệt là ở miền Bắc.
Cân bằng giữa "đủ điện" và "đủ điện sạch"
Trong hai thập kỷ qua, trong cơ cấu nguồn điện, điện tái tạo ngày càng được quan tâm phát triển, thậm chí là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đáp ứng các cam kết ESG (Môi trường, Xã hội, Quản trị).
TS Hoàng Tuấn Dũng, Nghiên cứu viên Cơ quan trao đổi Hàn lâm Đức tại Đại học Bách khoa Hà Nội, nhận xét: "Trong cuộc đua công nghệ cao hiện nay, năng lượng sạch không còn đơn thuần là câu chuyện môi trường, mà đã trở thành một dạng hạ tầng cạnh tranh quốc gia" để thu hút các doanh nghiệp công nghệ cao trong ngành bán dẫn, AI và trung tâm dữ liệu.
Tuy nhiên, điện tái tạo phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết nên sản lượng không ổn định, lúc trồi lúc sụt. Việc bùng nổ điện mặt trời và điện gió mang lại lợi ích môi trường nhưng lại là bài toán khó cho lưới điện quốc gia do tính chập chờn, phụ thuộc thời tiết. Vì vậy, "càng nhiều năng lượng tái tạo biến đổi, càng cần thêm nguồn dự phòng và điều tần để giữ ổn định lưới", Th.s Đào Nhật Đình, chuyên gia về năng lượng và môi trường của Tạp chí Năng lượng Việt Nam, cho biết.
Trong các nguồn điện hiện nay, điện than vẫn là nguồn dồi dào, chi phí thấp và có khả năng cung cấp điện ổn định, liên tục nhất. Đây là lý do nguồn điện này từng giữ vai trò trụ cột của nền kinh tế Việt Nam (30-35%) và sẽ tiếp tục phải chiếm quy mô thích hợp để bảo đảm đủ điện cho nền kinh tế.
Càng tăng sản lượng điện tái tạo như điện mặt trời, điện gió, thì lại càng cần nguồn điện ổn định để đảm bảo an toàn hệ thống. Ảnh: Quang Vinh
Không dễ từ bỏ điện than ngay
Trong quá trình công nghiệp hóa, hầu hết các quốc gia đều không thể "cắt đứt" ngay với điện than. Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, những nền kinh tế tăng trưởng nhanh, vẫn dựa vào nguồn điện chủ lực này để đáp ứng nhu cầu điện tăng đột biến khi chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ.
Trên thế giới, đã có sự cố điển hình khi tỷ trọng điện tái tạo cao nhưng không có đủ nguồn điện ổn định dự phòng, thiết bị bù công suất và cơ chế bảo vệ phù hợp.
Ông Nhật Đình kể về sự cố mất điện Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha hồi tháng 4/2025 đã khiến hơn 50 triệu người mất điện trong nhiều giờ, có nơi tới 16 tiếng. Nguyên nhân khởi phát được xác định là do việc mất đột ngột khoảng 727 MW điện mặt trời gần Badajoz, tiếp theo là 928 MW điện gió và mặt trời bị cắt trên nhiều vùng chỉ trong 1 - 2 giây. Khi đó, lưới điện rơi vào nguy hiểm - và để tự bảo vệ mình, nhiều nhà máy điện khác đã tự động ngắt khỏi hệ thống. Tất cả làm trầm trọng thêm cú sốc và đẩy hệ thống vào mất ổn định dây chuyền.
Tương tự, sự cố mất điện ở Nam Úc do bão lớn hồi năm 2016 khiến hàng loạt tuabin gió tự ngắt để tự bảo vệ trước biến động điện áp, làm mất một khối lượng lớn công suất phát trong thời gian rất ngắn và dẫn đến mất điện toàn bang.
Điều đáng nói là những sự cố bùng phát chỉ trong thời gian rất ngắn, chỉ vài phút, khiến hệ thống không kịp trở tay nếu không có sẵn nguồn bù đắp.
Việt Nam thường bù đắp các biến động điện tái tạo bằng hai nguồn điện nền chính là thủy điện và nhiệt điện. Thủy điện đã khai thác gần hết tiềm năng, không còn mấy dư địa phát triển. Điện hạt nhân thì chưa triển khai và cần thời gian chuẩn bị cả nguồn nhân lực và công nghệ. Do đó, khi điện mặt trời và điện gió tăng nhanh, áp lực buộc phải bổ sung điện nền từ than là tất yếu. Dù đã đặt lộ trình giảm điện than từ năm 2030, Bộ Công Thương vẫn phải mạnh mẽ đề xuất bổ sung dự án điện than và xin cơ chế "miễn trừ tạm thời" để huy động các nhà máy điện than trong tình huống khẩn cấp.
Ông Nguyễn Anh Dũng, Giám đốc các dự án năng lượng tại Quỹ châu Á, nói với Tia Sáng rằng để tăng trưởng kinh tế, điều kiện tiên quyết của Việt Nam là không được thiếu điện, kể cả việc phải điều chỉnh lại tốc độ chuyển dịch năng lượng.
"An ninh năng lượng, cụ thể hơn là an ninh cung cấp điện là vấn đề quan trọng vượt ra khỏi câu chuyện về môi trường và tài chính. Lý do cũng đơn giản thôi, tổn thất do thiếu điện cao hơn nhiều lần vấn đề phát thải hoặc đầu tư mới các nguồn điện với chi phí cao", ông nhận xét.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc giảm dần và loại bỏ than thường được đề cập đến trong nghiên cứu và trao đổi chính sách từ trước thời điểm đóng cửa nhà máy hoặc chuyển đổi từ 15-20 năm với nhiều kịch bản công nghệ, đầu tư được đưa ra, kèm theo những chi phí xã hội và chi phí hệ thống điện phải chịu. Thông thường quá trình đóng cửa một nhà máy nhiệt điện than cũng mất từ 10-12 năm kể từ khi có lộ trình được phê duyệt.