Tổng quan
Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, nghiên cứu được xem là nhân tố quyết định sự thịnh vượng của quốc gia. Một điều đã được công nhận rộng rãi là mọi nghiên cứu liên quan đến con người hoặc những thông tin về con người có thể xác định được thì đều cần được thực hiện theo những nguyên tắc về đạo đức (Draper and Wilson, 2007). Người ta mong đợi các nhà nghiên cứu nhận thức rõ và tuân theo những tiêu chuẩn đạo đức như sự ưng thuận của người cung cấp thông tin, sự đền bù cho người tham gia, sự cẩn mật, và những nguyên tắc cơ bản trong việc công bố khoa học và hợp tác quốc tế (Kanungo, 2006). Tuy vậy, lịch sử đã cho thấy vô số trường hợp phi đạo đức trong nghiên cứu (Kanungo, 2006). Mặc dù các nhà nghiên cứu y sinh học đã rất chú ý vấn đề đạo đức, sự quan tâm của các nhà nghiên cứu xã hội đối với vấn đề đạo đức nghiên cứu vẫn còn ở giai đoạn sơ khai. Cũng tương tự như thế, có một sự khác biệt rất đáng kể giữa các nước phát triển và đang phát triển về mức độ quan tâm đến vấn đề đạo đức trong việc thực hiện nghiên cứu (Christakis, 1992). Cân nhắc những luận cứ trên, bài viết này giải thích tầm quan trọng của cách tiếp cận có tính đạo đức trong nghiên cứu khoa học xã hội khi nó liên quan đến con người và những thông tin về con người có thể nhận biết được.Một ví dụ nổi tiếng thế giới về nghiên cứu phi đạo đức là "Nghiên cứu Tuskegee về bệnh giang mai không được điều trị". Trong nghiên cứu này, vốn là do Cơ quan Dịch vụ Y tế Hoa Kỳ bảo trợ thực hiện từ năm 1932 đến 1972, 412 người Mỹ gốc Phi nghèo khó với căn bệnh giang mai không được điều trị đã được theo dõi đối chứng với 204 người không bị bệnh để xác định lịch sử tự nhiên của bệnh giang mai. Mặc dù vào thời điểm cuộc nghiên cứu này bắt đầu, không có thứ thuốc nào tốt để điều trị căn bệnh, nhưng cuộc nghiên cứu vẫn được tiếp tục ngay cả khi thuốc kháng sinh penicillin đã trở thành phổ biến (năm 1944) và đã được biết là một phương tiện hữu hiệu để điều trị căn bệnh này.New England Journal of Medicine). Những gì đã xảy ra đã khiến
Vai trò của trường đại học và các tổ chức nghiên cứu trong việc phê chuẩn đạo đức
Phần lớn các trường đại học và tổ chức nghiên cứu hiện nay đã bắt đầu làm quen với những thủ tục/ ủy ban chính thức trong việc xem xét phương diện đạo đức của những công trình thực hiện trong y sinh học và các khoa học xã hội như kinh tế, xã hội học, tâm lý học, và tiếp thị. Tuy nhiên, có những mức độ thay đổi khá nhiều giữa các ủy ban xem xét vấn đề đạo đức nghiên cứu của các trường và của các tổ chức nghiên cứu trong việc xem xét và thủ tục phê chuẩn (Christakis, 1992). Các nhà nghiên cứu ở các trường đại học và các cơ quan nghiên cứu cần nộp những tài liệu cần thiết cho Ủy ban đạo đức nghiên cứu để được phê chuẩn và thực hiện nghiên cứu một cách độc lập và có hiệu quả. Những tài liệu cần nộp và thủ tục phê chuẩn được nêu trong Phụ lục. Nếu Ủy ban thấy rủi ro hay tổn thương cho người tham gia trong quá trình nghiên cứu, họ có quyền từ chối phê chuẩn.Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Kinh tế của Anh đã xác định những nghiên cứu sau đây là có nhiều rủi ro trên mức tối thiểu và yêu cầu được phê chuẩn về mặt đạo đức trước khi thực hiện:
Theo báo cáo của Hội đồng, những nghiên cứu của giới khoa học và sinh viên thực hiện ở Anh và các nước châu Âu đã tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn mực đạo đức và nghiên cứu chỉ bắt đầu khởi sự sau khi được Ủy ban đạo đức nghiên cứu phê chuẩn. Tương tự như vậy, Ủy ban Đạo đức Nghiên cứu Con người ở Úc và Hội đồng Xét duyệt Thể chế của Hoa Kỳ xem xét các dự án nghiên cứu ở Úc/Hoa Kỳ và bảo đảm sự an toàn cũng như bảo vệ người được nghiên cứu. Những tổ chức nghề nghiệp như Hội Nghiên cứu Giáo dục Hoa Kỳ (AERA), Hội Nghiên cứu Tâm lý học Hoa Kỳ (APA), Hội Nghiên cứu Xã hội học Hoa Kỳ (ASA) đều có những hướng dẫn tổng quát cho thành viên và thực hiện việc phê chuẩn về đạo đức nghiên cứu. Khảo sát các công trình nghiên cứu y sinh học và khoa học xã hội liên quan đến con người ở các nước đang phát triển, có thể thấy không hề có một khuôn khổ đạo đức thích hợp nào được xây dựng và người nghiên cứu không tỏ ra chú ý đến việc bảo vệ sự an toàn và bí mật của người được nghiên cứu. Tuy nhiên, sẽ trở thành điều bắt buộc đối với các nhà nghiên cứu ở các nước đang phát triển trong việc tuân thủ sự phê chuẩn về đạo đức nghiên cứu nhằm thu hút được các quỹ tài trợ nghiên cứu của các tổ chức nước ngoài. Đã có nhiều dự án nghiên cứu với nội dung khoa học rất tốt bị từ chối vì thiếu nền tảng đạo đức theo sự xem xét của các hội đồng ở các cơ quan nghiên cứu và các tổ chức tài trợ (Patton, 2002). Đồng thời điều này cũng sẽ ảnh hưởng đến việc công bố kết quả.
Phê chuẩn đạo đức và việc công bố kết quả nghiên cứu
Thật thú vị nếu ta lưu ý rằng phần lớn các tạp chí nghiên cứu khoa học đã bắt đầu yêu cầu các nhà nghiên cứu, các tác giả cung cấp bằng chứng về việc phê chuẩn đạo đức trước khi công bố những kết quả nghiên cứu liên quan đến con người hay sử dụng những thông tin cá nhân của con người. Tuy nhiên, họ không ngăn cản các nhà nghiên cứu đang làm việc mà không có sự phê chuẩn đạo đức. Mặt khác, những quy định này gây trở ngại cho việc công bố các kết quả nghiên cứu (Draper and Wilson, 2007). Một mặt hạn chế chính của cách làm này là các tạp chí nghiên cứu không nắm chắc được phẩm chất và kinh nghiệm của những Ủy ban đạo đức đã phê chuẩn cho một dự án nghiên cứu. Theo Draper và Wilson (2007), các tạp chí nghiên cứu y khoa thường gặp phải những vấn đề này ở những công trình không khởi sự ở các nước phát triển.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học
Các nước đang phát triển
Ít quan tâm đến vấn đề đạo đức
Không quan tâm đến vấn đề đạo đức
Social Science and Medicine, vol. 35, no. 9, pp. 1079-1091.