Những tượng hình đầu người do thổ dân New Hebrides tạc rất chân thực, thậm chí hơn cả chân thực, bởi ở những pho tượng ấy toát lên ánh nhìn. Đó không phải là sự mô phỏng đôi mắt, mà thực sự, đích xác là ánh nhìn. Mọi thứ khác chỉ là khung của ánh nhìn ấy. Nếu ánh nhìn ấy, cũng có nghĩa là đời sống, là bộ phân chính, thì phần đầu người mới trở thành bộ phận chính,... phần còn lại của cơ thể chỉ mang chức năng phụ, góp phần làm đời sống con người khả hữu - một đời sống trú ngụ trong sọ người. Rồi đến một lúc nào đó, tôi bắt đầu nhìn thấy những con người trên phố cứ như thể bản chất sống của họ bị thu lại đến độ nhỏ xíu. Tôi nhìn thấy những hiện hữu sống chỉ qua mắt họ mà thôi. [1951]
| Alberto Giacometti (1901-1966), con trai một họa sĩ nổi tiếng người Thụy Sĩ, đã định cư tại Paris từ năm 1922, nơi ông bắt đầu tìm hiểu lĩnh vực điêu khắc cùng với Antoine Bourdelle, một học trò của Rodin. Đến cuối những năm 1920, ông tiến hành thử nghiệm những hình thức nghệ thuật được khởi nguồn từ chủ trương tạo ra sự kết hợp tự do mà các nghệ sĩ trong phong trào siêu thực đề xuất - những người mà ông vẫn còn gắn bó cho đến giữa thập niên 1930. Sau đó, ông dấn thân vào một cuộc kiếm tìm đầy khó nhọc những phương tiện tái trình hiện hình ảnh con người trong tình huống thực của mình trong không gian - không gian mà ông ngày càng cố gắng diễn dịch trong cả tranh vẽ và tượng như một thành tố chủ động ảnh hưởng đến những cơ thể bên trong nó. Những ý niệm của ông về chủ thể - được phát triển vào cuối những năm 1930 - gần như cùng hướng với tư tưởng của các nhà hiện tượng học ở Pháp, đặc biệt là Maurice Merleau Ponty và Jean Paul Sartre, hai triết gia xây dựng những lý thuyết mới về tri nhận ảnh hưởng đến nhiều nghệ sĩ sau Thế chiến II. |
Hoa-Giang dịch
Nguồn: Twentieth – Century Artists on Arts, ed.by Dore Ashton, NY:Pantheon Books, 1985, trang 56-57.