MV opera: Một khía cạnh biểu đạt mới

Lớn lên cùng opera ở hình thức truyền thống nghĩa là hoặc bạn ngồi im lặng làm khán giả hoặc tham gia biểu diễn trong một dàn dựng opera theo một bộ quy trình rất nghiêm ngặt. Tuy nhiên, một cơ hội mới đã tới với opera và những người đam mê nó, đem đến sự thú vị và kinh ngạc trước những gì được chứng kiến.

Một cảnh trong MV “Song To The Moon” từ Rusalka của Dvorak do Megan Kaht trình bày năm 2018.

Cho dù đó là một vở opera dài 24 giờ như vở của nhà điêu khắc Benjamin Orlow, một phim hoạt hình ngắn nhan đề Opera của Erick Oh, hay thậm chí một kênh YouTube về những câu chuyện kinh dị phức tạp của một nhân vật ẩn danh được gọi là “Nhạc trưởng P”, dường như không có giới hạn nào cho hình ảnh và âm thanh của opera. Sự lấn sân ngày càng tăng của công nghệ mới trên sân khấu opera đã đem lại những biểu đạt mới, opera chưa bao giờ có nhiều khía cạnh biểu đạt đến vậy.

Một khía cạnh trong số đó là MV (music video – video âm nhạc). MV opera không phải là một khái niệm mới, ví dụ như đoạn trích video từ bản dàn dựng Carmen của Bizet do Opera Australia thực hiện năm 2017. Hoặc, nếu bạn muốn một ví dụ sớm hơn nhiều, thì có đoạn trích từ bộ phim La Traviata của Verdi do Franco Zefirelli đạo diễn năm 1983 và đoạn trích năm 1965 đặc tả Lucia Popp hát “Voice of Spring” của Johann Strauss II trong một buổi hòa nhạc lớn hơn. Hai ví dụ nữa giúp làm rõ vấn đề, đó là đoạn trích từ bộ phim La Traviata của Puccini quay năm 1971 với sự tham gia của Placido Domingo và Teresa Stratas và các đoạn trích từ bộ phim Tosca của Verdi năm 1976 với sự tham gia của Raina Kabaivanska cùng nhiều người khác, một trong những bộ phim yêu thích nhất mọi thời đại của tôi. Vấn đề ở đây là ý tưởng về một MV độc lập từ chất liệu opera, mặc dù có khả năng là một hình thức trình bày opera mới lạ, nhưng lại nằm trong hàng ngũ opera được quay phim đã có từ khá lâu! Tìm kiếm nhanh trên YouTube cho thấy một số ví dụ về opera và MV bao gồm bản “Mon coeur” của Camille Saint-Saëns do Elīna Garanča trình bày năm 2011 và bản “Song To The Moon” từ Rusalka của Dvorak do Megan Kaht trình bày năm 2018. Một trong những bối cảnh MV opera nổi tiếng nhất là “Diva Dance” từ bộ phim ăn khách The Fifth Element mà phần mở đầu được trích từ opera Lucia Di Lammermoor của Donizetti.

Movinapes Productions và MV đặc tả cảnh soprano Polly Ott và nghệ sĩ piano Chelsey Padilla cùng trình diễn aria “À vos jeux, mes amis” từ Hamlet năm 1868 của Ambroise Thomas, một vở opera hiếm khi được trình diễn tại các nhà hát ngày nay, là một bước tiến tuyệt vời cho opera. Trong bối cảnh một nhà kho được chuyển đổi mục đích sử dụng, với Ott trong tấm váy trắng được tô điểm tinh tế theo phong cách váy cưới và vòng hoa đội đầu, còn Padilla trong bộ vest đen dịu nhẹ, “Cảnh điên” của Ophelia được thể hiện một cách điêu luyện thông qua tính biểu tượng, lối diễn xuất tinh tế và một cái kết lôi cuốn, truyền tải trọn vẹn câu chuyện. Nhưng giờ, tôi sẽ để đạo diễn Mario Bergmann1 của MV này lên tiếng!


Bạn có các nhân vật, câu chuyện phía sau và một vở opera tuyệt vời đã hội tụ rất nhiều yếu tố của một MV hấp dẫn. Màn trình diễn lôi cuốn, kịch nghệ và ca từ độc đáo, trang phục nghệ thuật và thiết kế bối cảnh; đây gần như là tất cả những gì bạn mong đợi khi thiết kế một MV. Phim ảnh và MV luôn chịu ảnh hưởng từ opera.

Về việc phương tiện MV giúp truyền tải ý nghĩa của opera thì sao?

Mario Bergmann: Tôi cho là rốt cục đã đến lúc opera tiếp quản thế giới MV bằng những video đẹp mắt và đậm chất điện ảnh. Nhưng với cá nhân tôi, điều này bắt đầu bằng việc thực hiện các video aria/băng thử giọng cho Polly vợ tôi và các ca sĩ opera khác, cũng như sản xuất video quảng cáo cho các hãng thu âm. Tôi luôn nghĩ rằng hẳn có thể làm được nhiều hơn thế từ những bản thu âm này. Định dạng aria về cơ bản giống như một MV và âm nhạc thì rất tuyệt vời. Bạn có các nhân vật, câu chuyện phía sau và một vở opera tuyệt vời đã hội tụ rất nhiều yếu tố của một MV hấp dẫn. Màn trình diễn lôi cuốn, kịch nghệ và ca từ độc đáo, trang phục nghệ thuật và thiết kế bối cảnh; đây gần như là tất cả những gì bạn mong đợi khi thiết kế một MV. Phim ảnh và MV luôn chịu ảnh hưởng từ opera.

MV về cơ bản là một thể loại với những xu hướng và khuôn mẫu thẩm mỹ riêng. Chúng tôi đã thấy cơ hội để kết hợp cả hai. Chúng tôi đã xem nhiều video khác nhau để lấy cảm hứng và tình cờ tìm thấy các bản thu âm opera được thực hiện cho truyền hình từ những năm 70. Ví dụ như bộ phim với Anna Moffo trong Lucia di Lammermoor (Donizetti) năm 1971. Chúng tôi nghĩ rằng đây là một thứ gì đó gần giống với những gì chúng tôi muốn thực hiện nhưng chỉ ở một phiên bản tối giản hiện đại. Không phải là làm một bộ phim opera hoàn chỉnh mà là để opera tìm thấy sự hiện diện trong thế giới MV, thu hẹp khoảng cách giữa opera truyền thống và phương tiện truyền thông đương đại. Chúng tôi sẽ không bao giờ có thể nắm bắt trọn vẹn cảm giác khi ở trong nhà hát và trải nghiệm năng lượng của opera trực tiếp. May mắn thay, đó không phải là mục tiêu của chúng tôi. Nhưng video mang đến cho chúng tôi một số cơ hội độc đáo có thể tác động đến trải nghiệm của người xem theo những cách khác nhau.

Một cảnh trong MV À vos jeux, mes amis do soprano Polly Ott biểu diễn.

Chúng tôi có thể cắt vào cận cảnh, chúng tôi có thể kiểm soát thời gian và di chuyển không gian một cách nhanh chóng, dễ dàng, và ngay lập tức mở rộng sự chú ý của người xem giữa đại cảnh và chi tiết nhỏ. Có rất nhiều tiềm năng trong việc hình ảnh hóa các aria. Nó có thể trở thành một cách giới thiệu opera cho một khán giả mới bằng một định dạng quen thuộc và ngôn ngữ hình ảnh. Nâng tầm tiết mục aria mà không cần phải quá cố gắng làm cho opera trở nên hấp dẫn, nhưng có thể lại làm nổi bật tính liên quan của nó như một hình thức nghệ thuật và giúp nó dễ tiếp cận hơn. Và hy vọng là sẽ mang đến cho những người yêu opera một cách khác để trải nghiệm phương tiện này.

Thế còn âm nhạc và ý tưởng của anh, liệu có cần thiết phát triển chủ đề của aria không?

Mario Bergmann: Hầu hết các video opera tôi đã xem chủ yếu là các bản ghi âm biểu diễn trực tiếp hoặc ai đó đứng hát trước đàn piano. Một video biểu diễn trực tiếp có thể giàu biểu cảm và gây xúc động, nhưng nó cũng là một dạng tư liệu. Chúng tôi muốn tạo ra một vở opera mini của riêng mình dưới dạng MV, vì vậy chúng tôi đã chọn một địa điểm giống sân khấu để tạo cảm xúc, giữ cho nó tối giản và mở ra nhiều cách diễn giải. Đó có thể là một lâu đài mà Ophelia bị mắc kẹt, một địa điểm tổ chức đám cưới hiện đại mà cô ấy đang cố gắng trốn thoát, hoặc đó có thể là hình ảnh trực quan của tâm trí cô ấy. Bản thân aria đã cho chúng tôi những góc nhìn khác nhau để khám phá trong thế giới sáng tạo của mình. Chúng tôi sử dụng các công cụ dàn dựng như trong opera trực tiếp: thay đổi ánh sáng, đạo cụ và các biểu tượng trừu tượng đại diện cho chủ đề và thế giới của aria. Chúng tôi muốn cảnh mở đầu mang lại cảm giác như mở đầu một buổi độc diễn, sau đó biến đổi và bùng nổ thành một câu chuyện kể mang tính tường thuật hơn, phản ánh hành trình cảm xúc của Ophelia.

Hình ảnh khuôn mặt Ophelia phản chiếu trên mặt nước trong căn phòng xanh có thể chỉ là một hiệu ứng đẹp mắt trong một video nhạc pop, nhưng ở đây chúng tôi sử dụng nó để tượng trưng cho việc cô ấy rốt cuộc bị chết đuối. Kỹ thuật làm phim khiến nó trở nên gần gũi hoặc xa cách hơn, thêm một tầng trải nghiệm aria nữa. Một khía cạnh khác là khắc họa nghệ sĩ piano như một nhân vật riêng biệt. Việc nhìn thấy nghệ sĩ piano là rất quan trọng để làm cho âm thanh được ghi âm trước trở nên chân thực và đáng tin cậy tại địa điểm, đồng thời cũng mang đến cho chúng tôi cơ hội kể chuyện và sự đa dạng về hình ảnh. So với trải nghiệm trong một vở opera trực tiếp, nơi các nghệ sĩ biểu diễn thường ở rất xa, thì cận cảnh trong phim của chúng tôi làm nổi bật những biểu hiện cảm xúc và tài năng diễn xuất của ca sĩ trở nên rõ nét hơn. Việc quay phim hát nhép cho phép ca sĩ biểu diễn trong những tư thế hiếm gặp như Polly nằm trên sàn nhà, xung quanh là những bông hồng. Điều đó sẽ không thể thực hiện được trên sân khấu trực tiếp, hoặc ít nhất là rất hạn chế và khó hát đúng. Bằng cách đưa vào những nét gợi nhớ đến các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng, chẳng hạn như bức “Ophelia” của John Everett Millais, chúng tôi hy vọng khán giả sẽ nhận ra và cảm thấy hào hứng. Những đặc điểm chung giữa opera và điện ảnh giúp tạo nên những hình ảnh như những bức tranh sống động.

Nhưng trong quá trình đó, chúng tôi đã ngồi lại và suy ngẫm về Ophelia, về câu chuyện của cô, về nỗi đau khổ của cô, và tự hỏi làm thế nào để quay phim theo cách vừa quen thuộc như một MV vừa quen thuộc với người hâm mộ opera. Chúng tôi tập trung vào tâm trí của Ophelia – nơi giam cầm ký ức và gánh nặng hy vọng của cô. 

Các thành viên trong đoàn làm phim chúng tôi, những người chưa từng trải nghiệm opera trước đây, đã vô cùng xúc động trước âm nhạc trong quá trình sản xuất này. Một số người trong đó thậm chí còn trở thành người hâm mộ. Trợ lý biên tập video của chúng tôi bắt đầu khám phá thế giới opera và hiện đã tham dự một số buổi biểu diễn opera ở Berlin. Cô ấy thậm chí còn lập một nhóm WhatsApp gồm những người bạn thường xuyên đi xem opera dù mới làm quen với thể loại này. Không nhất thiết phải là nhà hát opera lớn. Đó cũng có thể là một buổi recital nhỏ hoặc một buổi hòa nhạc tại nhà. Tất cả đều là opera.

Hàm ý của kiểu tái tạo aria opera này là gì?

Mario Bergmann: Mục tiêu của chúng tôi không phải là tái tạo opera đã quay phim mà có thể là hiện đại hóa tính thẩm mỹ và định dạng của nó. Nguồn cảm hứng của chúng tôi, bộ phim với Anna Moffo mà tôi đã nhắc đến, cho thấy những điều tương tự đã được thực hiện trước đây nhưng sau đó không được phát triển thêm hoặc chuyển thể thành cách làm video đương đại. Tôi cũng nghĩ rằng khả năng kỹ thuật không phải lúc nào cũng có thể tiếp cận được với mọi nhà làm phim trong một thời gian dài. Ngày nay, chúng ta có nhiều công cụ sẵn có để tạo ra những video tuyệt đẹp với ít nguồn lực hơn. Việc tạo ra một định dạng MV opera cũng là một bước tiến công nghệ. Nhận thức được tầm quan trọng của mạng xã hội trong văn hóa đương đại, chúng tôi cũng hướng đến khả năng chia sẻ, tạo ra những khoảnh khắc ấn tượng về mặt hình ảnh gây tiếng vang trên các nền tảng mạng xã hội.

Ước mơ của chúng tôi là mở rộng opera – cả phạm vi tiếp cận lẫn cách trải nghiệm. Đối với những người mới làm quen với thế giới này, opera có thể khá đáng sợ vì dường như có một quan niệm sai lầm rằng để thưởng thức opera, bạn cần phải nghiên cứu nó hoặc có một số hướng dẫn chuyên môn. Cả hai điều này chắc chắn đều có thể nâng tầm trải nghiệm, nhưng cũng tốt thôi nếu xem một vở opera và cảm thấy xúc động chỉ đơn giản bởi những hòa âm, những giọng hát mạnh mẽ và biểu cảm của các ca sĩ. Bằng cách đưa các aria đơn lẻ vào không gian quen thuộc của MV, chúng tôi hy vọng sẽ giới thiệu nghệ thuật này đến mọi người theo cách giúp họ nhận ra rằng opera đã và luôn dễ tiếp cận. Các ca sĩ opera chính là những ngôi sao nhạc rock đầu tiên. Bằng cách lấy aria của Ophelia và đặt nó ra khỏi bối cảnh của vở opera, chúng tôi đang cố gắng tạo ra một định dạng tương đương với một đĩa đơn trong nhạc pop. 

Nhưng việc đưa aria vào không gian MV không có nghĩa là chúng tôi chỉ đơn giản sao chép cách một MV nhạc pop được thực hiện. Chúng tôi vẫn cần tạo ra những hình ảnh phù hợp với opera. Theo tôi, việc biên tập theo nhịp điệu âm nhạc opera là đặc biệt quan trọng. Chúng tôi không muốn chỉ thể hiện những hình ảnh rực rỡ sắc màu như video rap và sử dụng kỹ thuật biên tập nhanh. Cách làm video luôn cần phản ánh âm nhạc. 

Giữ vững cốt lõi của opera và sử dụng cách kể chuyện trực quan từ các định dạng quen thuộc, những người mới làm quen với opera và nhạc cổ điển có thể hiểu được vẻ đẹp của một aria dù chưa từng xem opera trước đây. Điều này có sức mạnh khơi dậy niềm hứng thú khám phá toàn bộ thế giới opera.□

John Vandevert thực hiện

Ngọc Anh dịch

Nguồn: https://operawire.com/opera-meets-film-in-conversation-with-mario-bergmann-about-the-opera-music-video/ 

———-

1 Nhà quay phim, đạo diễn và nhà sản xuất tự do người Đức gốc Nhật, hiện đang sống tại Berlin. Ông sáng lập và điều hành Movinapes Productions.

Bài đăng Tia Sáng số 22/2025

Tác giả

(Visited 8 times, 8 visits today)