Thường xuyên bị đặt trước hiểm họa ngoại xâm, Nhà nước dân tộc ở Việt Nam sau khi hình thành đã phát triển không phải chỉ nhằm đáp ứng các nhu cầu quản lý hoạt động kinh tế và sinh hoạt xã hội của cộng đồng, mà còn nhằm đáp ứng các nhu cầu bảo vệ độc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc. Điều này được chứng minh suốt một ngàn năm Bắc thuộc và được khẳng định qua hoạt động của Nhà nước phong kiến dân tộc từ các triều Đinh, Lê, Lý, Trần tới Hậu Lê. Dễ hiểu vì sao trí thức Việt Nam cả các cao tăng thời Lý- Trần lẫn các danh nho đầu thời Hậu Lê đều gắn mình vào với chính quyền, coi triều đình là biểu trưng cho lý tưởng độc lập của dân tộc. Đúng ra, ở họ cũng đã xuất hiện những mầm mống độc lập trong tư duy và hành động chính trị, mà điển hình là việc người trí thức kiệt xuất, vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi ra cộng tác với nhà Hồ "soán nghịch" năm 1400. Nhưng quá trình tham gia kháng chiến chống quân Minh đã kéo tác giả Bình Ngô đại cáo trở về với tập quán truyền thống khi đất nước đã được giải phóng, và tự giới hạn trong một khuôn mẫu ứng xử chính trị chỉ chấp nhận một vương triều duy nhất là chính thống vào lúc triều Lê trên con đường phong kiến hóa của nó đang dần dần hạ thấp ngọn cờ dân chủ, đồng thời ngày càng tỏ ra đối lập với tư tưởng nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã bị đẩy tới thảm kịch Lệ Chi Viên. Yêu cầu thống nhất vương triều để thống nhất đất nước mà tạo ra sức mạnh cần thiết cho việc đề phòng hiểm họa ngoại xâm do đó dĩ nhiên là có ý nghĩa tích cực, nhưng sự tập trung đáp ứng yêu cầu ấy theo lề lối phong kiến qua nhiều năm lại tạo ra tâm lý phổ biến coi triều là nước, thậm chí trong không ít trường hợp còn dẫn tới việc hy sinh những quyền lợi lâu dài của đất nước, đi ngược lại những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, vùi dập người hiền, bao che kẻ ác... dưới danh nghĩa gìn giữ uy tín và sự thống nhất của vương triều. Theo đà trượt trên đó phương tiện đã bị ngộ nhận là mục đích ấy, đường lối của chính quyền cũng như hoạt động của trí thức dần dần không còn phản ảnh được chính xác hiện thực của đất nước và xã hội nữa. Trong phạm vi cung đình, sự suy thoái này lại làm hình thành các nhóm chính trị đối lập nhau về quan điểm và chống báng nhau vì quyền lợi, mà kết quả điển hình là sự quy tụ của một số quan lại quanh Hồ Quý Ly thời Trần hay Mạc Đăng Dung thời Lê, ủng hộ hai viên Thái sư nhiều tài năng và giàu tham vọng này bá chiếm quyền hành rồi tiến tới đoạt ngôi Thiên tử. Nhưng ở thế kỷ XVI thì những xáo trộn trong đất nước sau vụ đảo chính của Mạc Đăng Dung đã kéo tầng lớp nho sĩ - trí thức ra khỏi giấc mơ bình an ý thức hệ, khi cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa các phe phái phong kiến đặt ra trước họ nhiều vấn đề mới về tương lai đất nước và vận mệnh dân tộc, những vấn đề thách thức tài năng của họ đồng thời đặt toàn bộ tri thức cũng như đạo đức chính trị của họ vào một khảo nghiệm lịch sử có thêm những tiêu chuẩn mới của một chủ nghĩa nhân văn. Sự chuyển biến trong ứng xử chính trị của trí thức Việt Nam thời Nguyễn Bỉnh Khiêm vì vậy cần được nhìn nhận trong hoàn cảnh và theo chiều hướng ấy.
| Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, giới nho sĩ - trí thức Việt Nam đã đạt tới một trình độ nhận thức cũng như khả năng ứng xử chính trị cao hơn so với thời gian trước đó. Sự phân biệt vương triều chính thống với văn hóa truyền thống nơi họ đã minh bạch hơn trước, điều này giúp họ vươn lên thành tầng lớp thể hiện và phản ảnh không những quyền lợi và tương lai của đất nước mà còn cả lợi ích và nguyện vọng của nhân dân. |
Sơ phạp đống lương phù đại hạ,
Hảo tương ấm tý cập tư dân.
(Rường cột thiếu tài nâng mái lớn,
Nắng mưa còn tán giúp dân này)
Trung Tân quán nhị lão dung thụ (2)
![]() Lễ hội tại khu di tích đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm |
Cần nói thêm rằng với nhân cách và bản lĩnh chính trị của ông, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chỉ mới đứng trong chặng đầu của quá trình chuyển biến toàn diện có thể coi như một trào lưu lịch sử về tập quán ứng xử chính trị của trí thức Việt Nam thời phong kiến. Có lẽ phải đến nhà nho tài ba và năng động không cam tâm chết già cùng cây cỏ Đào Duy Từ, giới trí thức Việt Nam mới thực sự có được một quan niệm dân chủ và tinh thần tự do trong cả tư duy lẫn hành động chính trị, mặc dù trên phương diện lịch sử, Đào Duy Từ có thể vừa là một nạn nhân vừa là một tội nhân. Nhưng mâu thuẫn giữa nhu cầu được giải phóng trong sinh hoạt chính trị với khả năng đáp ứng nhu cầu ấy của xã hội đương thời đã đặt những Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ trước một sự chọn lựa nhiều khi bi thảm. Người trí thức chỉ có thể được giải phóng triệt để về chính trị khi nào họ không còn bị chi phối bởi các lợi ích phe nhóm và nhất là không còn phải hoạt động trong tổ chức của các lực lượng đối lập với nhân dân.
***
![]() Học sinh trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm |
----------------------
(1) Theo Vũ Phương Đề, Bạch Vân am cư sĩ, Nguyễn Công Văn Đạt phổ ký, Công dư tiệp ký,
(2) Trung tâm Học liệu Bộ Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1973, tr. 396 - 415.
Theo Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Hồ Như Sơn, Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB. Văn học, Hà Nội, 1983, tr. 270 (phần phiên âm Việt Hán). Những trích dẫn thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm khác dùng trong bài viết đều rút từ công trình này.
(3) Theo Văn Tân, Đào Duy Anh, Trần Văn Giáp, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973, tr. 205 (bản dịch của Đào Duy Anh).

