Có thể nói, ở Việt Nam ta, vì nhiều lý do khác nhau, lý luận văn học so sánh rất bị xem nhẹ. Điều này trước hết được thể hiện ở số lượng công trình có thể xếp loại vào chuyên ngành văn học này. Theo Trần Đình Sử, "Số tác phẩm nghiên cứu so sánh về văn học Việt Nam ở nước ngoài đến nay chưa được thống kê, tập hợp. Đó là một con số quá ít, đề tài lại rời rạc, phân tán, chưa tập trung, chưa đủ để nhận thức tính quốc tế và các mối quan hệ quốc tế của văn học Việt Nam"1. Theo chúng tôi,
"Văn học so sánh là chuyên ngành nghiên cứu những mối quan hệ tương đồng, quan hệ họ hàng hay ảnh hưởng giữa văn học với các lĩnh vực nghệ thuật hay các lĩnh vực tư duy khác, giữa các sự kiện hay văn bản văn học, những mối quan hệ này có thể gần hay xa, trong không gian hay trong thời gian, miễn là chúng thuộc nhiều ngôn ngữ khác nhau, hoặc nhiều văn hoá khác nhau, cho dù có chung một truyền thống". |
|
Khi chỉ giới hạn văn học so sánh ở việc nghiên cứu quan hệ giữa các nền văn học dân tộc, chúng ta chỉ bó hẹp trong một lĩnh vực không phải là "sở trường", đó là tiếp nhận văn học nước ngoài. Định nghĩa mà Trương Đăng Dung hay Nguyễn Văn Dân đã đưa ra về văn học so sánh chưa đầy đủ ở chỗ văn học so sánh còn đối chiếu văn học với các loại hình nghệ thuật khác (điện ảnh, hội hoạ, âm nhạc v.v...), còn so sánh những tác phẩm khác nhau của cùng một tác giả, những tác giả khác nhau của cùng một trào lưu, những trào lưu khác nhau của cùng một dân tộc v.v... Chính vì lý do đó, chúng tôi thấy định nghĩa sau đây của
![]() | Ngay từ năm 1890, triết gia Ernest Renan, trong l’Avenir de la Science (Tương lai của khoa học), có viết: "Tôi nghĩ mình đã đào sâu từ văn học so sánh một ý nghĩ rộng lớn hơn nhiều về bản chất con người". Tương tự như vậy, nhà phê bình văn học René Etiemble khẳng định trong cuốn Comparaison n’est pas raison8 (So sánh không phải lý lẽ) rằng: "Văn học so sánh là chủ nghĩa nhân bản." Chúng ta nghiên cứu văn học so sánh là để hiểu chính mình và người khác, vì, như Paul Ricoeur đã khẳng định, chính mình chẳng qua là người khác (Soi-même comme un Autre). Chúng ta phải nhận thức được rằng so sánh không phải là so đo, không nên tránh so sánh giữa mình với người vì sợ bộc lộ những yếu kém của bản thân hay làm mất thể diện dân tộc. Trong chừng mực nào đó, so sánh là học hỏi, là khám phá bản thân, là phát triển tư duy và lập luận khoa học v.v... Vì những lý do đó, đã đến lúc các nhà "cầm cân nảy mực" trong lĩnh vực giáo dục và học thuật nghĩ đến việc đưa chuyên ngành văn học so sánh vào chương trình đại học ở Việt Nam, để từ đó xúc tiến việc phát triển chuyên ngành này ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới. |
![]() |
![]() Truyện Kiều của Nguyễn Du và Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân |
-----------------
1 Xem cuốn Văn học so sánh – nghiên cứu và triển vọng của GS. Trần Đình Sử, NXB Đại học Sư phạm.
2 Tạp chí Văn học, số 247, 1991.
3 NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000.
4 Daniel-Henry Pageaux, La littérature générale et comparée, Armand Colin, Paris, 1994, tr. 12
5 La Littérature comparée, Puf, "Que sais-je?", 1989.
6 Xem Phác thảo quan hệ văn học Pháp với văn học Việt nam hiện đại của Hoàng Nhân.
7 Xem "Thử nhìn lướt qua tính cách của nàng Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và trong Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân", Tạp chí văn học, số 2, 1981.
8 Gallimard, 1963.


