Bấy nhiêu đó liệu đã đủ để nói về sự "lạ" của văn xuôi trẻ 2007?
![]() |
![]() |
Về Nguyễn Vĩnh Nguyên, ngay ở tập truyện ngắn đầu tay Năm, mười, mười lăm, hai mươi (2005) của anh, người đọc đã bắt gặp khá nhiều truyện có thể được xếp vào loại văn xuôi huyễn tưởng, (và đây chính là một trong những dấu hiệu cho thấy tác giả trẻ này đã vượt qua giai đoạn tập sự). Đến tập Khu vườn lưu lạc, Nguyên lại tự thể hiện mình thêm ở một vài nét khác. Bản thân tôi đã từng viết về tập sách này: "Sự thủ tiêu cốt truyện, sự rời rạc cố y trong các mối liên kết của văn bản ở truyện ngắn của Nguyễn Vĩnh Nguyên, những kĩ thuật này có lẽ đã ít nhiều khiến chúng ta phải nghĩ đến một sản phẩm của tư duy văn xuôi hậu hiện đại, được đặc trưng bởi tính phân mảnh. ấn tượng này được khắc sâu thêm khi, trên bề mặt văn bản, người đọc bắt gặp một giọng văn đầy bỡn cợt, giễu nhại, bất kính, phạm thượng, phi giáo điều". (Kiên trì trên một cách viết. Hoài Nam. Văn nghệ Trẻ, ... 2007). Hai truyện hay nhất trong tập này, Toilet cổ trong ngôi nhà cổ, ngôi nhà cổ trong phố cổ và Một chuyến ra đời, là hai truyện phản ánh rất rõ đặc điểm vừa nói. Mà thực ra đây không đơn giản chỉ là đặc điểm của kĩ thuật tự sự. Tôi nghĩ, nó là một tâm thế, một trăn trở thực sự của người viết trẻ, trước vấn đề con người hôm nay và áp lực dội về từ quá khứ (Toilet cổ trong ngôi nhà cổ...) trước những thần tượng tưởng như không bao giờ có thể bị đụng chạm trong đời sống tinh thần của xã hội (Một chuyến ra đời). Viết như vậy trong bối cảnh một nền văn xuôi vẫn chủ yếu đi theo quán tính của việc kể chuyện, điều đó có thể coi là "lạ"?
Tập Tầng thứ nhất của Di Li cho tôi một tín hiệu để hi vọng về sự khởi phát của truyện ma (có thể khái niệm này vẫn chưa được chính xác cho lắm) trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam đương đại. Những Thánh Tông di thảo của vua Lê Thánh Tông, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, Truyền kì tân phả của Đoàn Thị Điểm, rồi Trại Bồ Tùng Linh của Thế Lữ, Ai hát giữa rừng khuya của Tchya Đái Đức Tuấn, Bóng ma nhà mệ Hoát của Vũ Bằng v.v... đã là chuyện quá khứ, từ lâu lắm rồi chúng ta không có một tác giả thực sự ở dòng văn xuôi này. Ai đó có viết thì cũng chỉ giống như vui chân ghé qua một lát, rồi sau lại quay trở về với đường đi quen thuộc của mình. Nhưng ở tập sách của Di Li, có 14 truyện thì đã chiếm tới phân nửa là những truyện mang yếu tố huyễn tưởng, kinh dị. Điều đó cho thấy một hứng thú thực sự của người viết đối với khu vực văn chương ít nhiều vẫn bị coi là... phi chính thống này. Nhưng phải thú thực, đọc truyện ma của Di Li, hấp dẫn thì có hấp dẫn, song khi đọc xong tôi cứ lẩn quẩn với cảm giác gặp người quen ở đâu đó. Truyện Hoa mộc trắng khiến tôi nhớ tới không khí liêu trai của những mối tình giữa người và cây cỏ hóa thân trong sách của Bồ Tùng Linh, truyện Canh bạc ma làm liên tưởng tới Con đầm pích của Puskin, truyện Bức tranh và ngôi nhà cổ thì chứa đầy những tình huống thót tim vã mồ hôi như ở một vài tác phẩm kinh điển của Edgar Alan Poe... Không có gì khó hiểu nếu trong cái viết của Di Li có dấu vết của những "đại gia" đã nổi danh toàn thế giới về truyện ma, truyện kinh dị. Vì thế, có lẽ vẫn nên ghi nhận Tầng thứ nhất như là một cố gắng rất đáng khích lệ của việc tạo ra cái riêng (tôi chưa nói đến cái lạ) trong văn xuôi trẻ của chúng ta hiện nay.
![]() |
Để khép lại bài viết nhỏ này, tôi muốn được trở lại với giả định đã đặt ra ở phần đầu: sự lắng xuống của dư luận trước văn xuôi trẻ năm 2007 (so với vài năm trước đó), phải chăng, là biểu hiện cho thấy bạn đọc đã biết bình tĩnh hơn, bớt sốt sắng theo những cách không cần thiết đối với tác phẩm của các cây bút văn xuôi trẻ? Có lẽ là như vậy, nếu văn xuôi trẻ 2007 không có gì mới hơn, khác hơn văn xuôi trẻ tiền 2007. Nhưng, từ những phân tích lướt qua ở trên, tôi cho rằng trong sự lắng xuống này của dư luận bạn đọc có cái tâm thế cẩn trọng của con chim một lần bị trúng tên nên cứ nhìn thấy cành cong là chột dạ. Nói "bạn đọc" có thể còn khá chung chung, gọi đích danh thì đó chính là giới phê bình. Từng "bé cái nhầm" với những cái tưởng là mới, hoặc từng tung hô to tát với những cái mới nho nhỏ, thì nay, họ chọn thái độ dè dặt trước những cái có thể là cái mới, cho... an toàn? Theo tôi, cả hai thái độ, hai cách ứng xử nói trên đều ít nhiều mang màu sắc cực đoan và đều không có lợi cho sự sáng tạo tiếp tục của các cây bút văn xuôi trẻ. Các giá trị không được nhìn nhận đúng với những gì nó thực có, cái mới không được tiếp nhận theo cách để từ đó nó có thể khuếch tán bền vững trong đời sống. Câu chuyện về văn xuôi trẻ 2007, một lần nữa, đặt ra vấn đề "con mắt xanh" của các nhà phê bình. Và rộng hơn, nó chạm tới một trong những câu hỏi gay cấn nhất mà chúng ta buộc phải tìm ra lời giải – càng sớm càng tốt – khi nền văn hóa Việt Nam đang hướng tới sự phát triển bền vững trong hội nhập quốc tế. Đó là: bằng cách nào để nhìn ra cái mới đích thực là cái mới, và phải ứng xử ra sao để cái mới ấy không bị chết yểu trong đời sống?
--------------
Chú thích: Về tiểu thuyết Sự trở lại của vết xước của Trần Nhã Thụy, bạn đọc có thể tìm hiểu qua các bài viết của Inrasara, Mai Sơn, Nguyễn Danh Lam và một vài tác giả khác, đăng tải trên trang www.bungbinhsaigon.net


