Thuốc kháng sinh cứu sống hàng triệu người khỏi các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm. Chúng còn được sử dụng phổ biến trong nông nghiệp, thủy sản và trồng trọt để phòng bệnh.
Tuy nhiên, chính việc sử dụng rộng rãi, đôi khi thiếu kiểm soát, đã tạo ra vấn đề kháng thuốc, khiến thuốc không còn tác dụng chữa bệnh hoặc phòng bệnh. Đây là một trong những thách thức sức khỏe toàn cầu, đe dọa cả con người, động vật và môi trường.
Một phân tích toàn cầu quy mô lớn công bố trên tạp chí The Lancet năm 2022 [1] cho thấy, trong năm 2019, có gần 5 triệu người chết do nhiễm vi khuẩn kháng thuốc, và khoảng 1,27 triệu người trong số đó chết vì không còn kháng sinh nào đủ hiệu quả để cứu họ. Con số này thậm chí còn cao hơn số người chết vì HIV/AIDS hay sốt rét trong cùng năm.
WHO báo cáo rằng, hiện nay, cứ sáu ca nhiễm trùng vi khuẩn thì một ca không còn đáp ứng với kháng sinh thường dùng, với mức độ kháng thuốc tăng 5-15% mỗi năm. Dự báo nếu không có biện pháp quyết liệt, hơn 39 triệu người có thể tử vong do vi khuẩn kháng sinh từ nay đến năm 2050.
Những con số này đặt kháng kháng sinh vào nhóm các nguyên nhân tử vong hàng đầu trên thế giới. Thiệt hại kinh tế toàn cầu do kháng thuốc gây nên lên tới hàng trăm tỷ USD mỗi năm, theo một số ước lượng.
Thuốc kháng sinh cứu sống hàng triệu người khỏi các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm, nhưng chính việc sử dụng rộng rãi, đôi khi thiếu kiểm soát, đã tạo ra vấn đề kháng thuốc. Ảnh: VnExpress
Những vi khuẩn kháng thuốc nguy hiểm nhất
Phân tích toàn cầu công bố trên tạp chí The Lancet nói trên cho thấy sáu tác nhân vi khuẩn gây tử vong nhiều nhất liên quan đến kháng kháng sinh gồm Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Klebsiella pneumoniae, Streptococcus pneumoniae, và Pseudomonas aeruginosa. Các loại vi khuẩn này gây các dạng nhiễm trùng rất phổ biến như gây viêm phổi, viêm tai, nhiễm trùng tiết niệu, cho đến viêm màng não, hay nhiễm trùng máu, thậm chí có cả Acinetobacter baumannii chủ yếu gây nhiễm trùng bệnh viện. Những tác nhân này chiếm phần lớn các ca tử vong do nhiễm trùng kháng thuốc trên toàn cầu.
Trong đó, các vi khuẩn gram âm như Klebsiella pneumoniae, Acinetobacter baumannii và Pseudomonas aeruginosa đặc biệt nguy hiểm vì chúng thường gây viêm phổi nặng, nhiễm trùng máu ở bệnh nhân yếu và có khả năng phát triển kháng nhiều loại kháng sinh cùng lúc.
Các nhiễm trùng đường hô hấp dưới như viêm phổi được xác định là hội chứng lâm sàng gây tử vong nhiều nhất liên quan đến kháng thuốc, với hơn 1,5 triệu ca tử vong liên quan trong năm 2019.
Trong nhiều trường hợp, bệnh nhân bị nhiễm trùng tử vong không phải hoàn toàn do vi khuẩn kháng thuốc, mà còn do họ có các yếu tố rủi ro như trẻ sinh non, người lớn tuổi và có bệnh nền nghiêm trọng như ung thư, tiểu đường, miễn giảm miễn dịch, có thể dẫn tới tỷ lệ tử vong cao ngay cả khi bị nhiễm với vi khuẩn nhạy với thuốc.
Tuy nhiên, các nghiên cứu phân tích gánh nặng bệnh tật toàn cầu cho thấy phần lớn tử vong do nhiễm trùng có thể giảm được nếu bệnh nhân được chẩn đoán sớm, điều trị đúng thuốc và tiếp cận hệ thống y tế hiệu quả. Thêm nữa, việc phòng ngừa bệnh nhiễm trùng nhờ vệ sinh, nước sạch, nâng thể trạng, dùng vaccine, và kiểm soát lây nhiễm trong cộng đồng và bệnh viện cũng rất quan trọng.
Nhiễm trùng kháng kháng sinh thường dẫn đến thời gian điều trị dài hơn, nhu cầu sử dụng các thuốc đắt tiền hơn và nguy cơ biến chứng cao hơn. Chẳng hạn, các nghiên cứu tại nhiều quốc gia đã cho thấy nhiễm trùng huyết do vi khuẩn kháng lại thuốc carbapenem - nhóm kháng sinh được coi là "tuyến phòng thủ cuối", thường được lựa chọn khi các kháng sinh khác thất bại - có thể làm tăng đáng kể tỷ lệ tử vong và kéo dài thời gian nằm viện thêm nhiều tuần. Những bệnh nhân này thường cần điều trị bằng kết hợp của một số kháng sinh khác nhau hay loại kháng sinh có độc tính như polymyxin, tigecycline.
Do đâu vi khuẩn kháng thuốc
Trong thế giới hiện đại, việc con người dùng thuốc kháng sinh đã tạo áp lực chọn lọc mạnh hơn lên vi khuẩn do chúng liên tục bị "tấn công". Kết quả là vi khuẩn nhạy thuốc bị tiêu diệt, còn vi khuẩn kháng thuốc thì sống sót bằng nhiều cách: làm giảm độ bám của thuốc vào mục tiêu, giảm nồng độ thuốc trong tế bào, phá hủy và thay đổi cấu trúc của thuốc, hay có những thay đổi sinh lý hóa thích nghi.
Trong tự nhiên, các vi khuẩn sống trong đất, nước và thực vật có thể tự sản xuất kháng sinh từ hàng triệu năm trước để tiêu diệt hoặc ức chế các vi khuẩn khác xung quanh. Để tự bảo vệ khỏi chính các chất kháng sinh này, chúng có những gen tự kháng (self-resistance genes), cho phép miễn nhiễm với loại kháng sinh mà chúng tạo ra. Các vi khuẩn khác trong cùng môi trường sống cũng phát triển cơ chế kháng lại những kháng sinh này. Như vậy kháng thuốc đã xảy ra rất lâu trong tự nhiên, trước khi kháng sinh được phát triển và xử dụng rộng rãi trong y học hiện đại từ những năm 1940.
Hiện tượng kháng kháng sinh còn lan rộng nhờ các cơ chế chuyển giao một số gen kháng thuốc chéo từ vi khuẩn này sang vi khuẩn khác, khiến nhiều bệnh nhiễm trùng trở nên kháng thuốc và khó điều trị. Hơn thế, các thành viên trong cộng đồng vi sinh vật không chỉ trao đổi gen kháng thuốc mà còn có thể hỗ trợ nhau sống sót thông qua biến đổi thuốc hoặc thay đổi nồng độ chất chuyển hóa trung gian. Hiện tượng này khiến kháng thuốc không còn là vấn đề của một loại vi khuẩn đơn lẻ, mà trở thành vấn đề của cả cộng đồng sinh vật sống trong môi trường ruột của người và vật nuôi hoặc các hệ sinh thái tự nhiên như nước, đất và bùn.
Việt Nam trong bức tranh toàn cầu
Vấn đề kháng thuốc có một phần nguyên nhân từ việc sử dụng kháng sinh quá mức hoặc sai cách trong y tế, nông nghiệp, và thủy sản, cũng như xử lý không hiệu quả kháng sinh trong nước thải hay phân động vật. Dư lượng kháng sinh cao trong thực phẩm, nước thải hay phân từ bệnh viện, trại nuôi, nhà máy sản xuất thuốc có thể làm tăng tốc sự tiến hóa và lan truyền của các chủng kháng và gen kháng thuốc trong cơ thể người, động vật và môi trường.
Việt Nam thuộc nhóm có mức sử dụng kháng sinh cao và tỷ lệ kháng thuốc đang tăng nhanh.
Lượng kháng sinh trên đầu người ở Việt Nam tương đương 261,7 mg/kg - cao hơn nhiều so với con số của Liên minh Châu Âu là 122,0 mg/kg. Ảnh: Quỳnh Trần/VnExpress
Lượng kháng sinh được dùng cho vật nuôi và cho người lần lượt là hơn 2.751 tấn và 1.086 tấn mỗi năm. Số lượng này tương đương 261,7 mg và 247,3 mg trên kg của người và vật nuôi - cao hơn nhiều so với con số của Liên minh Châu Âu là 122,0 mg và 151,5 mg. [2]
Nước thải từ bệnh viện, trại nuôi gia súc và nhà máy sản xuất thuốc cũng chứa kháng sinh dư thừa ở mức có thể tạo ra áp lực chọn lọc, thúc đẩy sự xuất hiện của các vi khuẩn kháng thuốc. Ví dụ, nước thải từ bệnh viện chứa nồng độ thuốc cao ngay cả khi đã qua xử lý như Ciprofloxacin 42,8 và 21,5 µg/L (trước và sau xử lý) và Metronidazole 36,5 và 14,8 µg/L (trước và sau) [3]. Theo một số báo cáo, nước thải thu ở một số nhà máy sản xuất dược phẩm chứa sulfamethoxazole (252 μg/L), trimethoprim (107 μg/L), ofloxacin (85 μg/L), và ciprofloxacin (41 μg/L) [4]. Đây là các kháng sinh phổ biến điều trị viêm phổi, tiêu chảy do vi khuẩn, nhiễm trùng tiết niệu...
Việc sử dụng kháng sinh quá mức cùng với ô nhiễm kháng sinh trong môi trường đang thúc đẩy tình trạng kháng kháng sinh tại Việt Nam. Hệ quả là, mỗi năm Việt Nam có khoảng 70.000 ca tử vong liên quan đến kháng thuốc - theo ước tính của GRAM, một dự án trọng điểm trong khuôn khổ hợp tác chiến lược giữa ĐH Oxford và Viện Đo lường và Đánh giá Sức khỏe (IHME) [5]. Con số này thật đáng giật mình nếu đem so với 23.000 ca trên khoảng 330 triệu dân ở Mỹ [6], 33.000 ca trên 450 triệu dân ở EU [7] và 1,27 triệu ca trên toàn cầu [8]. Để so sánh, con số tử vong do kháng kháng sinh ở Việt Nam chiếm khoảng 5–6% tổng số ca tử vong do kháng kháng sinh trên toàn cầu, trong khi dân số Việt Nam chỉ chiếm khoảng hơn 1% dân số thế giới.
Nhiều chủng vi khuẩn phổ biến trong bệnh viện đã kháng hầu hết kháng sinh thường dùng. Nghiên cứu tại các bệnh viện tuyến trung ương cho thấy tỷ lệ vi khuẩn Acinetobacter baumannii kháng carbapenem có thể vượt quá 50-70% trong một số khoa hồi sức tích cực, tức là một nửa đến 2/3 ca nhiễm gần như không còn thuốc mạnh để điều trị. Theo MEDLATEC, trong giai đoạn 2022–2024, Klebsiella pneumoniae có tỷ lệ kháng carbapenem khoảng 30-40%, nghĩa là cứ 10 ca thì 3–4 ca khó chữa bằng kháng sinh mạnh nhất; P.aeruginosa kháng carbapenem và fluoroquinolone ở mức 40%; và S. aureus MRSA trên 70%.
Kháng thuốc không chỉ là vấn đề y tế mà là vấn đề môi trường và xã hội, đòi hỏi biện pháp tổng thể và phối hợp giữa các ngành. Để bảo vệ hiệu quả điều trị của các kháng sinh hiện có, cần tăng cường phòng ngừa bệnh nhiễm trùng, sử dụng kháng sinh hiệu quả, giảm lạm dụng kháng sinh cho người cũng như trong nông nghiệp và thủy sản, nâng cấp công nghệ xử lý nước thải và có hệ thống giám sát kháng thuốc. Đồng thời, cần phát triển các phương pháp chẩn đoán và chữa trị mới cho vi khuẩn kháng thuốc.
(Kỳ sau: Các ‘vũ khí’ ngăn ngừa vi khuẩn kháng thuốc)
---
Ghi chú: Bài viết thể hiện ý kiến của tác giả, không đại diện cho cơ quan tác gia đang làm việc.
Tài liệu tham khảo:
[1] Muray et al, Global burden of bacterial antimicrobial resistance in 2019: a systematic analysis. The Lancet 2022; 399: 629–55)
[2] Carrique-Mas et al. An estimate of total antimicrobial usage in humans and animals in Vietnam. Antimicrobial Resistance and Infection Control, 2020, 9:16
[3] Lien et al. Antibiotics in Wastewater of a Rural and an Urban Hospital before and after Wastewater Treatment, and the Relationship with Antibiotic Use-A One Year Study from Vietnam. Int J Environ Res Public Health, 2016, 13:588).
[4] Thai et al. Occurrence of antibiotic residues and antibiotic-resistant bacteria in effluents of pharmaceutical manufacturers and other sources around Hanoi, Vietnam. Sci Total Environ, 2017, 645:393
[5] https://www.healthdata.org/sites/default/files/2023-09/Viet_Nam.pdf
[6] https://www.cdc.gov/antimicrobial-resistance/data-research/threats/index.html
[7] https://www.ecdc.europa.eu/en/news-events/33000-people-die-every-year-due-infections-antibiotic-resistant-bacteria
[8] https://www.ox.ac.uk/news/2022-01-20-estimated-12-million-people-died-2019-antibiotic-resistant-bacterial-infections